Thông báo: Từ vựng tiếng Hàn thường gặp nhất từ 301 trở đi có tính phí. Vui lòng xem hướng dẫn bên góc phải. Notice: 6000 most common Korean words with sample sentences and explanations from 301 are not free. Please contact us at nguyentienhai@gmail.com for more details. Website for learning Korean language effectively in shortest time, fast learning Korean, 6000 most common Korean words, basic Korean words with sample sentences,
Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011
Cấu·trúc cú·pháp của câu tiếng Việt: Chủ - Vị hay Đề - Thuyết?
Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011
Vấn·đề chuẩn·hóa từ·vựng tiếng Việt
Tham-khảo nguyên-tắc chuẩn-hoá thuật-ngữ khoa-học ở các nước
(Tạp-chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 5 (115) - 2005, trang 12 - Ngôn ngữ & Đời sống, 5 - 2008, trang 12)
Tác-giả: Nguyễn-Thị-Kim-Thanh
Thuật ngữ khoa học là một bộ phận từ ngữ quan trọng của hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới, đó là “những từ và cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó…”, “là bộ phận từ vựng biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” (Nguyễn Như Ý, 1997, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội), Vậy nên, chuẩn hoá thuật ngữ là một trong những nội dung chính của chuẩn hoá ngôn ngữ.
Một cách nhìn về tương-lai của chữ Nôm
Các tác-giả:
- Ngô-Thanh-Nhàn, Đại-học New York, nhan@cs.nyu.edu
- Ngô-Trung-Việt, Viện Công-nghệ Thông-tin, vietnt@itprog.gov.vn
Download (bài-báo này được in trong tạp-chí Thời đại mới, số 5, tháng 7/2005)
Tóm tắt
Bài này đưa ra một số nhận xét về những tiến triển trong việc nghiên cứu, in ấn, phổ cập sử dụng chữ Nôm trong những năm gần đây, cả về số lượng, chất lượng, người và của, trong và ngoài nước. Sự tiến triển này cơ bản không tách rời tiến triển chung của kỹ thuật xử lý đa ngữ, tra cứu mạng, kiến thức ngôn ngữ học, và kiến thức xử lý văn bản, và những chính sách thích hợp. Theo ý chúng tôi, trung tâm của sự tiến triển này là bộ mã chuẩn Unicode và ISO/IEC 10646 mà Việt Nam đã quyết định tham gia từ đầu những năm 1990.
Cơ bản của cách nhìn về tương lai của chữ Nôm là chuẩn mã (codepoints), dạng chính tắc (canonical forms), cấu phần cơ bản (basic components) và bổ sung thêm kho (repertoire) chữ Nôm dành cho mọi loại nghiên cứu và sử dụng rộng rãi, trên cơ sở tra cứu (search) mạng internet. Từ một bộ mã chung qua mạng, thông qua tiêu chuẩn Việt Nam, mà những nhà nghiên cứu, giáo dục, bảo tồn, bảo tàng, thư viện, v.v. có thể nghĩ đến những tiến triển xa hơn, trong tri thức tập thể của cộng đồng Việt Nam và thế giới.
Việc này không thể làm được nếu chúng ta không có một chương trình đưa các văn bản văn hoá quan trọng của Việt Nam vào một kho lưu trữ quốc gia mà ai cũng tham khảo được. Do đó, bài này phác hoạ một số hoàn cảnh cơ bản và định hướng để tiến tới một tương lai mà chúng tôi cho là mặc nhiên—trong đó, chúng ta không để mất những tài sản tri thức có thể mất, lấy lại những tài sản tri thức đã mất, và làm cho sử và đặc trưng của dân tộc Việt Nam hiển lộ với đầy đủ chứng cứ.
Chữ Nôm: Văn-hoá cổ-truyền và thời-đại thông-tin
(In trong tạp-chí Ngôn-ngữ số 4 năm 1999, các trang 11-22, Hà-Nội)
Các tác-giả:
- Giáo-sư, Tiến-sĩ Nguyễn-Quang-Hồng, Viện Hán-Nôm, Hà-Nội
- Tiến-sĩ Ngô-Thanh-Nhàn, New York University
- Đỗ-Bá-Phước, Mentor Graphics Corp., California
- Ngô-Trung-Việt, Viện Công-nghệ Thông-tin, Hà-Nội
Lời tòa soạn: Chữ Nôm đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của văn hoá và bản sắc Việt Nam gần suốt thiên niên kỷ thứ nhì. Ngày nay, số người biết chữ Nôm trở thành hiếm hoi, hầu như chỉ hạn chế trong giới nghiên cứu và giới tăng lữ Phật giáo. Nguy cơ mai một của chữ Nôm là mối lo của bất cứ ai thiết tha với văn hoá dân tộc. May thay, công nghệ thông tin lại mở ra một triển vọng khả quan cho phép chúng ta lưu trữ có hệ thống toàn bộ di sản chữ Nôm, và tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có cho việc học chữ Nôm, và xử lí các văn bản Nôm (và Hán Nôm).
Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011
Chữ Nôm và cổ-văn Việt-Nam
Tác-giả: Diệu-Tần
Chữ Nôm xuất hiện
Các cụ ta gọi là chữ Nôm, có nghĩa là chữ của người phía Nam, khác với chữ ở phía Bắc, chữ Hán của Trung Quốc, tương tự như gọi thuốc herbal của Trung Quốc là thuốc Bắc, gọi thuốc cổ truyền Việt là thuốc Nam. Cũng từ nôm có nghĩa là đơn giản, dễ hiểu, thực thà, rõ ràng trong tính từ nôm na.
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011
Các đặc·điểm ngữ·âm của tiếng Huế
(Thông·tin Khoa·học và Công·nghệ, số 1, năm 1992)
0. Dẫn nhập
Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi cố gắng phác hoạ các đặc điểm của tiếng Huế đương đại, xét trên bình diện ngữ âm học. Nhưng trước hết tưởng cũng cần xem qua tình hình phương ngữ thổ ngữ của tiếng Việt và xác định vị trí của tiếng Huế trong bức tranh chung đó để có một cái nhìn tổng quát về tiếng Huế.
Một·vài cảm·nhận sơ·lược về đặc·điểm ngữ·âm và từ·vựng tiếng Huế
Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011
Ngôn-ngữ...
Chẳng hiểu sao đến hôm nay tôi mới thấy bài của bác Giang Lê nói về ngôn ngữ – mà thực ra chỉ có vài dòng.
Nó là thế này:
Tôi nhớ ở VN trước đây mọi người hay “truyền tụng” nhau câu nói đại loại là: tiếng Anh là ngôn ngữ cho business, tiếng Pháp cho love, tiếng Đức cho khoa học, còn tiếng Nga cho … everything. Hôm nay thấy Jean-Claude Trichet (người Pháp) nói tiếng Anh và tiếng Pháp là “comunication languages” còn tiếng Đức là “thinking language”, bằng chứng có rất nhiều nhà triết học người Đức. Kiến thức ngôn ngữ của tôi rất hạn hẹp nên chẳng dám bình luận gì, nhưng với tôi tiếng Việt vẫn là nhất, chỉ ngại mỗi khoản xưng hô
Thôi thì ai cũng thuộc cái câu “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Việt” rồi. Thế các tiếng khác thì sao?
Nói theo kiểu của ông Trichet – tiếng Đức là ngôn ngữ tư duy vì Đức lắm triết gia – thì hẳn tiếng Tàu phải có khả năng làm người ta phát điên dễ dàng, nếu không thì đã chẳng có chuyện bao nhiêu người nhảy xuống sông bơi theo Mao Trạch Đông để rồi chết đuối (ông Mao thì bơi cực giỏi – đó là sự thật).
Tiếng Hàn nhất quyết là dùng để quát mắng và chửi nhau rồi, vì mấy ông Hàn Quốc lúc nào cũng nói oang oang.
Tiếng Nhật thì sao nhỉ? Tôi thấy mấy cô Nhật (từ già tớ trẻ) nói chuyện cứ gọi là ngọt như mía lùi ấy.
Nghĩ loanh quanh tự nhiên lại ra một truyện cười đọc đâu đó lâu rồi. Đại khái là có ông giáo sư giỏi nhiều ngoại ngữ được phóng viên hỏi về công dụng của từng thứ tiếng với ông. Ông kể lể nào là tiếng Anh đi làm việc, tiếng Pháp đi tán gái, tiếng Latin đi nhà thờ (tôi không nhớ lắm), vân vân và vân vân. Anh phóng viên hỏi khi nào thì dùng tiếng mẹ đẻ. Ông giáo sư cười: khi tôi lỡ rót nước sôi vào chân.
Nhưng nếu ai đó tưởng thế đã là oách thì nhầm to. Hoàng đế La Mã Thần Thánh Charles V có câu tuyên ngôn bất hủ sau đây:
I speak Spanish to God, Italian to women, French to men, and German to my horse.
- dịch (thoát ý một chút xíu-xìu-xiu): Ta nói tiếng Tây Ban Nha với Chúa, tiếng Ý với phụ nữ, tiếng Pháp với đàn ông, còn tiếng Đức thì để dành cho lũ ngựa!
(Lưu ý rằng La Mã Thần Thánh – Holy Roman Empire – còn được gọi là Đệ nhất Đế chế của… Đức đấy ạ)
Một ông hoàng khác cũng của La Mã Thần Thánh – Sigismund – cũng không kém phần long trọng:
I am the king of Rome, and above grammar!
- dịch (cũng thoát ý một chút xíu-xìu-xiu): Ta là vua của Rome, và đứng trên ngữ pháp!
Ngài tuyên vậy khi bị một giám mục chê là dốt ngữ pháp ngay trước Hội đồng Giám mục.
Tôi thì không phải là vua hay hoàng đế gì hết mà chỉ là một phóng viên vô danh thôi. Cho nên, tôi yêu tiếng Việt của tôi, ngay cả khi nó là bão táp.
Nhưng nhân nói tới tiếng Việt, xin được kết thúc bằng lời vàng ngọc của cụ Phạm Thượng Chi:
Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn.