Thông báo: Từ vựng tiếng Hàn thường gặp nhất từ 301 trở đi có tính phí. Vui lòng xem hướng dẫn bên góc phải. Notice: 6000 most common Korean words with sample sentences and explanations from 301 are not free. Please contact us at nguyentienhai@gmail.com for more details. Website for learning Korean language effectively in shortest time, fast learning Korean, 6000 most common Korean words, basic Korean words with sample sentences,
Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011
Một·vài khác·biệt giữa hai ngôn·ngữ Nhật-Việt
Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011
Việt-ngữ tinh-nghĩa từ-điển
Tác-giả: Long-Điền Nguyễn-Văn-Minh
Nhà-xuất-bản: Quảng-Vạn-Thành
Nơi xuất-bản: Hà-Nội
Năm xuất-bản: 1950
Link download: https://docs.google.com/uc?id=0B-fSriMZY_UuZDZmMDNhMWMtZGM0OC00YmVlLThiNzAtMTAzMjBjNjllM2Uz&export=download&hl=en
Từ-điển này giải-thích nghĩa và cách dùng các từ gần nghĩa như "những" với"các", ....
Vấn·đề tiếng đồng·âm trong Việt·ngữ và dấu nối trong tên họ
(Tạp·chí Văn số 25, Chuyên·mục Giải·đáp thắc·mắc bạn đọc, ngày 1 tháng 1 năm 1965)
1.) Vấn-đề tiếng đồng-âm trong Việt-ngữ : « Va, Da, Gia » có thể là những tiếng đồng-âm không ? Tôi cho những cặp tiếng sau đây là đồng-âm có đúng không : ngan và ngang, tất và tấc, lòng và lồng? Hay tiếng đồng-âm chỉ có thể là những tiếng như hiên trong « hiên-ngang » và hiên trong « mái hiên ».
2.) Dấu nối trong tên họ. Chẳng hạn như tên tôi, theo ý-kiến của ông, nên viết theo một trong những lối sau đây : Trương-Bạch-Mai, Trương Bạch-Mai. Lối sau, riêng theo ý tôi, nó không có một liên-lạc gì giữa họ và tên. Và tôi cũng không đồng ý khi người ta cho rằng chỉ có dấu nối giữa những tiếng trong tên ghép hoặc chữ ghép, chẳng hạn : Nguyễn-Phúc Ánh, Trần thị Kim-Chi.
Nguyễn·Bạt·Tụy
Tản·mạn về đề·án chữ Việt không dấu
(Bài viết trên Diễn đàn Hội Tin học Việt Nam - Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 2007)
Từ ngày ấy đến nay, tôi đã gửi đề án này dến hơn 200 cơ quan thông tấn, báo chí, điện toán (tin học), các trường đại học . . . đồng thời đăng tải trên mạng Diễn đàn Tin học và Đời sống của Hội Tin Học Việt Nam, và đã nhận được nhiều ý kiến khen, chê, thắc mắc.
Tôi thấy đã đến lúc nên tổng kết và trả lời những câu hỏi của quý độc giả trong và ngoài nước.
Phương-châm trong việc tạo từ mới
- Tính dân tộc:
1.1 Thuần Việt :
Sử dụng những từ thuần Việt.
Ví dụ:
gourmet powder: bột ngọt hay vị tinh.
stomach: dạ dày hay bao tử.
1.2 Nho Việt:
Những từ Nho Việt do người Việt tạo ra, là đặc trưng riêng của Việt Nam.
Ví dụ:
stomach: bao tử. Nếu dịch sát nghĩa từ "bao tử", bao là cái bao, tử là chết; từ "bao tử" không có nghĩa gì trong tiếng Trung Hoa. Theo ngữ pháp Trung Hoa, họ nói ngược lại là "tử bao" dịch sát có nghĩa là "bao chết". Hơn nữ, từ "bao tử" còn mang một ý nghĩa triết lý trong đó.
Từ "vị tinh" ghi theo Hán tự (Chinese character) hoặc Nho tự là "味菁". Nếu phiên âm theo giọng đọc của tiếng Quảng Đông là "mì chính". Nếu đọc "味菁" theo âm Việt và ghi theo mẫu tự La-tinh thì từ Nho Việt là "vị tinh". Từ "vị tinh" thể hiện rõ nghĩa của từ là tinh chất của vị.
Please make yourself as home: xin đừng khách sáo (khách khí – 客氣), xin tự nhiên như ở nhà bạn . Từ "sáo" lột tả được nhiều ý nghĩa hơn là từ "khí" (氣). Hơn nữa, ta có những từ gần với nó như sáo ngữ, nói như sáo. - Tính khoa học
Nguyên-tắc tạo từ mới
Hán tự hoặc Nho tự được tạo ra theo sáu cách gọi là phép lục thư (六書).
- Tượng Hình (象形): căn cứ trên hình tượng của sự vật. Ví dụ:
Ghép một gạch ngang (一), một sổ thẳng (丨), hai nét phẩy xuống ở hai bên, tượng trưng một cây có cành ngang, rễ dọc, để ghi chữ Mộc "木", có nghĩa là "cây". - Chỉ Sự (指事) hay Biểu Ý (表意) (hay tượng sự, xử sự): Trông mà biết được, xét mà rõ ý. Ví dụ:
Chữ Bản (本), do ghép chữ Mộc (木) và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa "gốc rễ".
Lấy nét ngang (一) làm mốc, phần (–) đứng ở trên mốc là (上) thượng, phần đứng ở dưới mốc là (下) hạ. - Hội Ý (會意) (hay tượng ý): Mỗi chữ có nhiều phần, mỗi phần có một nghĩa, hợp ý của hai chữ ấy lại để tạo ra một chữ mới với ý mới. Ví dụ:
Chữ Lâm (林) là rừng , do ghép hai chữ Mộc (木) tạo thành, rừng do nhiều cây hợp thành.
Chữ Cổ (古) là xưa, ngụ ý điều gì mà mười (十 Thập) miệng (口 Khẩu) đã nói đến là cũ, xưa rồi. - Hình Thanh (形聲), (hay tượng thanh, hài thanh): chiếm 80% toàn bộ chữ Hán. Mượn phần âm (声) của một chữ có sẵn rồi ghép vào một bộ (phần hình 形) chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới. Ví dụ:
Chữ Vị (味) trong "khẩu vị" do ghép bộ Khẩu (口) chỉ việc ăn hoặc nói, và chữ Vị (未) là "chưa" trong "chưa đến – vị lai" để chỉ cách phát âm.
Chữ Giang 江 là sông, gồm bộ Thuỷ (氵) để chỉ vật gì có liên quan đến nước (ý nghĩa) và chữ công (工) chỉ cách phát âm của chữ "江, Giang". Ghi chú: theo cách tạo từ này, lẽ ra phải đọc là "Giông" chứ không phải "Giang" vì nó lấy âm "ông" trong chữ "công, 工". Nếu thay âm "Gi" Việt cổ (?) hay Hán cổ (?) bằng âm "S" Việt hiện nay, chữ 江 ta đọc là "sông", nghĩa là sông (river) là hợp tình hợp lý nhất?! Trong 80% toàn bộ chữ Hán được tạo theo phương thức Hình Thanh, có bao nhiêu chữ thuộc loại này? Phần này để các bạn cũng như các nhà nghiên cứu suy nghĩ thêm về tính chính danh của cách gọi "từ Nho Việt" thay cho "từ Hán Việt". - Chuyển Chú (轉注): Dùng một chữ có sẵn, thay đổi hình dạng đi đôi chút, để đặt ra một chữ khác có nghĩa tương tự. Ví dụ:
Ghép bộ Thảo (cây cỏ) vào chữ Lạc (樂, vui vẻ) thành chữ Dược (藥) là thuốc
Chữ Lão (老) là già, thay đổi hình dạng đôi chút ta có Khảo (考) nghĩa là "sống lâu". - Giả Tá (假借): Mượn âm của một chữ có sẵn:
a. Biến đổi dấu giọng (thanh) của chữ ấy để tạo thành một chữ mới với nghĩa khác.
Ví dụ: 長 Trường: dài, 長 Trưởng: lớn.
b. Giữ nguyên thanh âm của một chữ nào đó, rồi gán thêm cho nó một nghĩa mới.
Ví dụ: 萬 Vạn, vốn có nghĩa là con bò cạp, nhưng lại dùng thêm nghĩa mới là mười ngàn.
Nhờ chữ quốc ngữ viết bằng mẫu tự La tinh, chúng ta không bị đóng khung trong phép "lục thư" trong việc tạo từ mới.
Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011
Nguyễn-Ninh - Bộ-gõ Chữ Việt mới tạm-thời
Chào quý vị và các bạn,
Đây chưa phải là phần mềm được lập trình một cách hoàn chỉnh mang tên tác giả nào cả, mà chỉ là một số thủ thuật sử dụng những công cụ tin học hiện nay, được tập hợp lại trong cái gọi là “ Bộ gõ chữ Việt mới tạm thời “ mang tính trao đổi nội bộ, nhằm hỗ trợ những ai thích làm quen với chữ này dùng thử, cũng là để tiêu khiển cho vui…
Do tính chất tạm thời, bộ gõ này chưa thực hiện việc viết liền từ kép mà vẫn gõ rời từng từ đơn âm. Nhìn tổng thể bộ gõ này có nhanh hơn nhưng chưa nhanh nhiều lắm so với các bộ gõ khác. Bạn nào có khả năng lập trình cải thiện được bộ gõ này tốt hơn xin công bố lên mạng để mọi người cùng thưởng thức.
Nguyễn-Ninh – Nội-dung rút-gọn của chữ Việt mới
I. CẤU TẠO CỦA MỘT TỪ ĐƠN ÂM TIẾT:
Từ (đơn âm tiết) = Phụ âm đầu + Vần + Thanh.
II. PHỤ ÂM ĐẦU:
Đa số phụ âm đầu vẫn như cũ, chỉ có 9 sửa đổi: Chỉ dùng chữ k để biểu thị âm "cờ" và "quờ" thay cho c, k, qu; dùng c thay cho ch; d thay cho đ; f thay cho ph; q thay cho kh; j thay gi; z thay d; bỏ h trong gh, ngh.
III. VẦN :
Cách xây dựng các vần của Chữ Viêt Mới rất đơn giản: Mỗi vần được cấu tạo chỉ bằng một con chữ (nguyên âm) hoặc hai con chữ ghép lại ( môt nguyên âm và một phụ âm) mà vẫn xóa bỏ được hoàn toàn các dấu phụ. Thí dụ: og (ong); ok (ôc); yl (uyên); yj (ương)…
Mặt khác, vần cũng rất dễ nhớ vì chỉ cần học một số nhỏ vần từ đó suy ra nhiều vần khác nhờ hai phép biến đổi sau:
Nguyễn-Ninh – Chữ Việt mới dùng cho công-nghệ thông-tin
Tên tác-phẩm: Chữ Việt mới
Nội-dung: Đề-xuất phương-án cải-tiến chữ Việt hiện-nay thành chữ Việt không dấu
Tác-giả: Nguyễn-Ninh
Địa-chỉ: Hà-Nội, quận Đống-Đa, phố Chợ Khâm-Thiên, phường Trung-Phụng, ngõ 143, ngách 62, số nhà 17.
Điện-thoại: 844 - 518 6134
(Giấy chứng nhận bản quyền tác giả số 266/2006/QTG do Cục Bản quyền Tác giả - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 17 tháng 02 năm 2006)