Saturday, November 12, 2016

Tản mạn kinh nghiệm học chữ Hán cổ

Tác·giả: Trn Văn Chánh




Tôi chọn lối “tản mạn” để không bị ràng buộc phải theo một bố cục chặt chẽ khi trình bày một số vấn đề liên quan. Nói tới học chữ Hán, với một người mới chỉ có ý thích và ý định thôi nhưng thực tế chưa từng học qua thì tâm lý chung thường dẫn họ đến mấy câu hỏi đầu tiên đại loại như: chữ Hán với chữ Nho và chữ Nôm có gì giống và khác nhau, học chữ Hán dễ hay khó, học chừng bao lâu thì đạt được kết quả như mong muốn, có thể tự học được không hay bắt buộc phải có thầy dạy?...

            Trước hết có th xác định: Hc ch Hán, nếu là ch Hán c vi tính cách là mt t ng, hc để nghiên cu, đọc sách, viết hoc dch thut thì có th t hc được. Hc Hán ng hin đại (tc tiếng ph thông hay Bch thoi) nếu cũng ch nhm vào nhng mc đích tương t như trên mà không nhm giao dch bng li nói thì cũng có th t hc. Trái li, nếu hc Hán ng hin đại vi tính cách nó là mt sinh ng dùng để đàm thoi trong giao dch thông thường hoc làm ăn mua bán thì thường thường, nếu không mun nói nht thiết, phi có thy dy, và nhng lp dy Hoa ng như vy hin nay đang có khp nơi trong c nước, ai mun hc cũng đều có th ghi danh để hc mt cách d dàng.

            Trước hết, để nói cho người chưa nhp môn, chúng ta nên phân bit Hán c và Hán hin đại, mà người ta còn gi là Văn ngôn và Bch thoi. Đây là hai th văn ca người Trung Quc, trong đó Bch thoi còn gi Ng th là th văn viết theo tiếng nói thc tế ngoài xã hi, còn Văn ngôn hay C văn (hay Hán c) là loi bút ng ch dùng trong vic biên chép hoc tr thut thi trước. Ngày nay, Văn ngôn đã tr thành mt t ng ch dùng cho vic nghiên cu văn hóa lch s ca các triu đại, mà người Trung Quc nếu không được dy thêm cũng không th viết hoc đọc hiu. Do vy, ngay ti đất ngun, người Trung Quc cũng phi hc c văn gn ging như hc mt ngoi ng, hoc như người Vit hc Hán c (ch khác v cách phát âm), mi có th tiếp cn-thưởng thc được các công trình ca t tiên h. Rt nhiu sách dy c văn t bc tiu hc đến bc đại hc đã được xut bn, ph biến ti Trung Quc (k c lãnh th Đài Loan). Hu hết các sách Hán c ca h đều đã được dch ra và chú gii bng Bch thoi (Hán ng hin đại), gi là ngôn văn đối chiếu, hoc dch chú”, “đối dch, thông dch, tân dch (bn dch mi), giúp thế h con cháu đọc hiu được tư tưởng ca tin nhân trong các sách cổ Thi kinhLuận ngữLão TửTrang TửCổ văn quan chỉĐường thi tam bách thủTam tự kinhThiên tự văn… Cũng nhờ vậy mà người Việt Nam chúng ta ngày nay cũng dùng “ké” vào được, điều đó có nghĩa một người thông thạo Trung văn (Hán ngữ hiện đại) mà chưa rành cổ văn cũng có thể tham khảo đọc hiểu được các bản cổ văn đã được chuyển dịch sang Bạch thoại.      
            Văn ngôn tương đương vi cái mà chúng ta gi ch Nho. Ngày xưa các c hc ch Nho là để đọc sách thánh hin ch không để nói, khi gp mt người Trung Hoa có hc vn, hai bên có th bút đàm vi nhau, như trường hp c Phan Bi Châu thi xưa khi qua gp Lương Khi Siêu (Trung Quc) hoc Khuyn Dưỡng Ngh (Nht Bn) cũng phi gii quyết tr ngi ngôn ng bng kiu đó. Đây cũng là khía cnh độc đáo ca ch Hán c, mt loi ch viết-văn viết ch không để nói, mà th ch đó đầu tiên được cu to bng các li tượng hình, hi ý…, không ghi li theo âm thanh ca tiếng nói như trong trường hp ch Nôm ghi âm đọc tiếng Vit, hoc các ký t Latinh ghi âm đọc ca ch Pháp, ch Quc ng...
            Li nói v ch Nôm và Hán Nôm. Chúng ta thường gp nhiu người đã có trình độ hc vn ph thông ri nhưng vn chưa phân bit được ch khác nhau gia ch Hán vi ch Nôm, và Hán Nôm khác vi Hán ng nói chung như thế nào. H không hiu rõ ch Hán là ch ca dân tc Hán tc người Trung Hoa, được viết bng nhng nét ngon ngoèo ri rm nhưng trông vào thì có v đẹp hp dn, còn ch Nôm chính là mt loi ch Vit c, mượn nét ca ch Hán và phép cu to hài thanh ca nó để ghi thanh âm tiếng Vit, như khi Nguyn Du làm câu thơ đầu truyn Kiu Trăm năm trong cõi người ta thì phi viết toàn ch Nôm (ch Vit c). Trong khi đó, nếu ch Hán thì trăm năm phi nói bách niên, bách tuế”…, trong là trung, còn cõi người ta là nhân gian, nhân sinh”… chng hn. Câu thơ trên khi Hoàng Dt Cu (Trung Quc) chuyn truyKiều sang chữ Hán, phải dịch là “nhân sinh bất mãn bách”, là chỉ dịch thoát. Chữ (trăm) trong chữ Nôm được tạo nên bằng chữ (bách) ở trên là trăm để chỉ ý nghĩa, và chữ (lâm) ở dưới để chỉ âm đọc, cũng là một lối chữ hình thanh…, có cách cấu tạo tương tự chữ Hán. Do chữ Nôm cấu tạo bằng những nét và thể thức của chữ Hán nên phải biết chữ Hán kha khá trước rồi mới có thể học qua chữ Nôm được.
            Còn Hán Nôm là gì? Hán Nôm thường để gi gp chung ch Hán và ch Nôm, đồng thi cũng ch vào nhng thư tch c ca người Vit Nam viết bng ch Hán, như các sách Khâm định Việt sử (Quốc sử quán triều Nguyễn), Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Lê Hữu Trác), Hoạt nhân toát yếu (Hoàng Đôn Hòa), Hoàng Việt văn tuyển (Bùi Huy Bích), Thượng Sĩ ngữ lụcThiền uyển tập anh ngữ lục (đời Trần),… hoặc những truyện Nôm, thơ Nôm, văn cúng viết bằng chữ Nôm…, đều là nằm chung trong kho tàng Hán Nôm của người Việt. Về mặt từ vựng và ngữ pháp, khi người Việt xưa sử dụng chữ Hán (mượn của Tàu) để diễn đạt những vấn đề và sự vật của nước mình, đã phải sáng tạo ra một số từ ngữ mà Trung Quốc không có, như nói “ngưu lao” là trâu bò, “cao” là sào (đơn vị đo ruộng), “tượng phường binh” là lính giữ voi, “kiên thán” là than đá, “nam trân” là trái loòng boong…, đều là những từ ngữ không tìm thấy trong bất kỳ từ điển nào của người Trung Quốc. Một số từ Hán Việt hiện đại như “hoa hậu”, “hải phận”… cũng không có trong kho từ vựng của Trung Quốc. Về ngữ pháp, một số hư từ đã được dùng riêng theo lối Việt Nam như “hồ nhi” là (sao mà), “tồn như” (còn như)… cũng không thấy trong tiếng Hán chính thức của người Hán.
            Còn v ng âm, thì người Trung Quc đọc ch Hán theo âm ca h (khác nhau tùy theo địa phương), người Vit đọc theo âm Hán Vit, như hai ch (tri đất) đọc theo âm Qung Đông là thín tì”, theo âm Bc Kinh là thí-ến tí”, đọc theo âm Hán Vit là thiên địa; ch (ba) âm Qung Đông đọc xám, âm Bc Kinh đọc sán, âm Hán Vit đọc tam”… Như vy dù đọc theo âm nào, đâu, ai biết ch nhìn vào ch (tam) cũng biết ý nghĩa nó là ba (s ln hơn 2, nh hơn 4).
            Cách đọc Hán Vit thường được hiu đơn gin là cách đọc ch Hán Vit Nam, bng li đọc riêng ca người Vit. Theo các nhà nghiên cu, cách đọc này bt ngun t h thng ng âm tiếng Hán thi Đường, c th là Đường âm dy Giao Châu vào khong thế k VIII-IX, nhưng dn dn có s biến đổi theo quy lut ng âm tiếng Vit để tr thành mt cách đọc riêng bit ca người Vit (xem Nguyn Tài Cn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1979, tr. 14-15).
            Ch Hán c đọc theo âm Hán Vit (tc ch Nho) t khá lâu đã tr thành mt t ng nhưng nó vn gi vai trò rt quan trng vì trong tiếng Vit hin đại, có đến 50-70 % t ng gc Hán. Nếu không am hiu ch Hán s rt khó hiu đầy đủ và vn dng tiếng Vit mt cách chính xác, thun nhã. Ngoài ra, để đi sâu nghiên cu văn hóa-lch s c ca Vit Nam, cũng như để thưởng thc được nhng danh tác thơ, văn, triết lý ca c Trung Quc ln Vit Nam vn cha đựng nhiu tinh hoa tư tưởng phương Đông rt thâm trm sâu sc liên quan đến mi lĩnh vc ca đời sng, nếu không biết ch Hán thì cũng khó đi vào, đừng nói chi thâm nhp. Nói như ông Dương Ngc Dũng có v khng định nhưng không xa s tht là my: “Đối vi người Vit Nam hc triết phương Đông đồng nghĩa vi hc tiếng Tàu mà tiếng Hán c thì khó quá. Ngay c người Trung Quc còn phi than tiếng Hán c là khó hung h là người Vit Nếu ch cn đọc chơi cho biết thì không nói làm gì ch thc s mun nghiên cu dài hơi thì không th không vượt qua khâu hc tiếng Hán Khó thì khó tht nhưng phn thưởng tht là ln lao, xng đáng. Không có nim vui sướng nào ln hơn khi nhìn thy qua nhng nét bút ngon ngoèo phc tp c mt thế gii ý nghĩa t t hin ra. Có l đó chính là nim thích thú ca nhng người hc c văn. Đối vi k khác đó là mt kho tàng bí mt mà chìa khóa đã b quăng mt, nhưng đối vi người am hiu, kho tàng m ra vi bao nhiêu điu thú v, nhng điu mà ngay c mt bn dch tt nht cũng ch là nhng tiếp cn nht nho không có sc sng, không có linh hn…” (Đường vào triết học, NXB Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006, tr. 58).
            Trước năm 1975, min Nam, theo chương trình giáo dc chính quy, ch Hán c được dy mi tun mt gi bc trung hc, nhưng ít có trường nào thc hin đúng vì thiếu giáo viên và cũng vì ít có giá tr thc dng hơn so vi tiếng Anh, tiếng Pháp, tuy nhiên lúc đó người ta vn duy trì ban D là ban c ng cp thi tú tài I và tú tài II để thí sinh có th tùy chn gia hai môn Hán c và c ng Latinh. Trên thc tế, ch Hán ch được dy chính thc các khoa Văn, S, Triết ca bc đại hc (mi tun vài gi), hoc trong mt lp chuyên tu Hán Nôm nào đó, và mt s chùa chin, còn phn ln là hc trong các sách t hc. Mà nhng người có cơ may hc trong trường lp, nếu không đeo đui t hc thêm thì sau mt thi gian bao nhiêu ch cũng tr li hết cho thy, đến đọc mt đôi câu đối hoc dòng ch Hán trong toa thuc bc cũng không hiu ni!        
            Như trên đã nói, ch Hán c hoàn toàn có th t hc được, mc dù nếu có thy dy thì vn tt hơn. Theo s hiu biết ca tôi thì mt s c tin bi gii Hán c như Phm Qunh, Đào Duy Anh, Nguyn Hiến Lê, Phm Tt Đắc, Phùng Tt Đắc (Lãng Nhân)…đều là nhng người ch yếu t hc. Thế h bây gi vn tiếp ni có nhng dch gi tương đối tr vi nhiu công trình nghiên cu-dch thut khá giá tr như Lý Vit Dũng, An Chi (Võ Thin Hoa), Nguyn Tôn Nhan, Lê Anh Minh, đều do t hc mà đạt được nhng thành tích rt đáng trân trng.    
            Trong khong 50-60 năm tr li đây, khi Hán hc suy tàn, sách t hc ch Hán trái li được xut bn ln lượt khá nhiu, như mt cách để cu vãn tình thế, còn trước đó na thì hu như không có sách t hc. Truy li khong nhng năm 40 ca thế k trước, chúng ta được biết, ngoài nhng cun như Nhất thiên tựTam thiên tựNgũ thiên tựMinh tâm bảo giám… được một số dịch giả (có lẽ Trương Vĩnh Ký là đầu tiên) đem ra phiên âm, dịch nghĩa, còn thì loe hoe chỉ có mấy cuốn đáng gọi “tự học” như Hán tự tự học của Nguyễn Xuân Lâm (1942), Hán học tiệp kính và Hán văn quy tắc của Nguyễn Di Luân-Trần Quốc Trinh (cuốn sau, thư viện chùa Huệ Quang mới sưu tầm được), Hán văn tự học (sau đổi thành Nho văn giáo khoa toàn thư) của Nguyễn Văn Ba, Hán tự tân phương của Tạ Quang Phát …Để bổ sung, người tự học đôi khi phải tìm thêm những sách dạy, nhất là về ngữ pháp, của một số tác giả người Pháp như Cordier, Margouliès, Wieger, Ramusat… nhưng phần lớn những sách này đều biên soạn rất sơ sài. Tại miền Nam trước năm 1975, còn có nhiều sách tự học chữ Hán của một số tác giả khác như Võ Như Nguyện-Võ Hồng Giao, Lưu Khôn, Nguyễn Khuê, Trần Trọng San, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh Đức, Đào Mộng Nam…, mỗi cuốn đều có ưu khuyết điểm riêng và cuốn nào dùng cũng lợi ích, nhưng riêng tôi thích nhất bộ Hán văn của Trần Trọng San (NXB Thành Phố Hồ Chí Minh có tái bản lần I năm 1996), chủ yếu lấy các bài khóa từ bộ Tân quốc văn của Trung Quốc làm giáo trình, nhưng biên soạn cẩn thận, trình bày sáng sủa ngắn gọn mà có phương pháp, lại có thêm phần văn phạm (ngữ pháp) và văn tuyển. Học hết quyển đó có thể bắt đầu đọc gần hiểu được những sách thông thường viết bằng cổ văn, với điều kiện là phải chịu khó tra thêm những chữ khó chưa biết.
           Trong sut thi gian 50-70 mươi năm, góp thêm vào vic t hc ch Hán c, phi k đến hai b t-t đin gHán Việt từ điển của Đào Duy Anh (1931) và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (1942). Hai bộ này tuy còn không ít khuyết điểm nhưng đều có công rất lớn cho việc tự học chữ Hán của người Việt Nam trong suốt mấy mươi năm dài. Riêng cuốn của Thiều Chửu, nhờ có số tự nhiều hơn và chứa đựng nhiều từ ngữ Phật giáo nên được các nhà sư dùng nhiều, đến nay vẫn còn hữu dụng và được biên tập lại cho hợp lý hơn để tái bản nhiều lần.  
            Nói Hán hc suy tàn, nhưng càng v sau, sách dy ch Hán c c ln hin đại đều xut hin mi ngày mt thêm nhiu, hoc son mi, hoc được tái bn t nhng sách cũ trước đây. Riêng sách t hc Hán c, có nhng sách như Giáo trình Hán văn ca Chu Thiên (do nhóm biên tp Bùi Xuân Trường-Lc Thin-Nguyn Thnh thc hin, NXB Thành Ph H Chí Minh, 2002), Toàn thư tự học chữ Hán của Trần Văn Chánh-Lê Anh Minh…; cuốn sau này nhờ biên soạn sau nên gom góp tham khảo được một số ưu điểm của những người đi trước và hiện cũng đang được dùng khá phổ biến. Về ngữ pháp, có những sách của Phạm Tất Đắc, Trần Văn Chánh, và một cuốn gọn hơn, Ngữ pháp Hán văn của nhà sư Thích Tuệ Dũng dùng thích hợp cho các tu sĩ Phật giáo. Về hư từ, có những sách của Trần Thước, Trần Văn Chánh… Riêng về từ điển Hán Việt (không kể của Đào Duy Anh và Thiều Chửu) thì có khá nhiều, người học có thể tự chọn một quyển nào thích hợp cho hoàn cảnh mua sắm và mục đích học tập của mình.
           Ai biết tiếng Anh, có th tìm thêm my cun sau đây, biên son rt tt:
- J. Brandt, Introduction to Literary Chinese, Ederick Ungar Publishing Company, New York.
- Harold Shadick, A First Course in Literary Chinese, Cornell University Press, Ithaca and London, 1992.
- Gregory Chiang, Language of the Dragon, Cheng and Tsui Company, USA, 1998.
Chuyên v ng pháp Hán c, nếu có điu kin, có th tìm cuOutline of Classical Chinese Grammar của Edwin G. Pulleyblank, do UBC Press / Vancouver in năm 2000.
Như vy tính ra, vi điu kin mi bây gi, người t hc ch Hán có được thun li hơn nhng lp người đi trước đến c chc ln, y là còn chưa k đến nhng phương tin hin đại (nht là các sách công c, t đin ln nh, t đin chuyên dùng đủ loi) mà chúng ta có th truy cp bt c gi phút nào trên mng internet.



(Thy đồNguồn: www.vienngonnguhoc.gov.vn)
Khi hc được mt vài trong s nhng sách đã được gii thiu trên đây, coi như hết chng đường đầu, người hc t nhiên s có kh năng tham kho trc tiếp dn nhng sách viết bng ch Hán xut bn ti Trung Quc, và khi đó tha h la chn mà chng my cn phi có ai hướng dn, vì nó phong phú vô cùng, hin có th tìm được hiu sách Đại Thế Gii (qun 5) hoc Fahasa Tân Định, và vài hiu sách tư nhân nh góc Triu Quang Phc-Nguyn Trãi, TP. HCM.
giai đon này, bn có th đọc vài tiu thuyết ch yếu viết bng Văn ngôn như Tam Quốc chíThủy hửĐông Chu liệt quốc chí…(bán rất nhiều ở mấy hiệu sách tiếng Hoa với giá rẻ lắm) để vừa thưởng thức, vừa tự rèn luyện thêm khả năng đọc hiểu Hán cổ. Cụ Nguyễn Hiến Lê khi tự học chữ Hán đến giai đoạn này, đã ghi lại cảm tưởng của mình trong quyển Tự học một nhu cầu thời đại: “Trước bạn học thấy khó nhọc bao nhiêu, thì bây giờ bạn thấy thú bấy nhiêu. Công của bạn đã được đền bù. Không bao giờ tôi quên được những phút say mê, khi mới biết lõm bõm ít chữ Nho, tôi đọc lời bình phẩm Tam Quốc chí của Thánh Thán: Trời thì rét căm, ngọn đèn thì lù mù mà tới 11 giờ khuya tôi vẫn còn ngồi trước cuốn sách. Tôi tưởng ai học chữ Hán cũng được phần thưởng vô giá ấy” (NXB Thanh Tân, Sài Gòn, 1967, tr. 133-134).
Để có th tham kho được sách Trung Quc, người t hc trước đó cũng nên t hc qua văn Bch thoi, bng cách tìm hiu các t ng và ng pháp riêng ca tiếng Hán hin đại (khác nhiu vi Hán c), và như thế trong t sách cũng không th thiếu mt b t đin tiếng Hán hin đại đáng tin cy mà mình có th la chn thoi mái các hiu sách vi giá không cao lm. Như vy, để va hc thêm c văn, đọc được các tác phm c t T thư Ngũ kinh đến bách gia chư tử…thông qua các bn dch Bch thoi, va có th đọc được sách báo hin đại ca Trung Quc.
Ngoài ra trong nhà cũng nên có sn mt s bn dch tiếng Vit các tác phm kinh đin, để va đọc va hc, như Thi kinh (các bn dch ca Tn Đà, T Quang Phát, Nguyn Th Ho), Luận ngữ (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Lê Phục Thiện, Nguyễn Hiến Lê…), Đại học (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Tạ Thanh Bạch …), Trung dung (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Phan Khoang, Tạ Thanh Bạch…), Mạnh Tử (của Nguyễn Đôn Phục-Nguyễn Hữu Tiến…), Lão Tử (các bản dịch của Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần, Phan Ngọc…), Đường thi (các bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Lê Nguyễn Lưu…), Cổ văn (tức Cổ văn quan chỉ, các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Khôi…), Sử ký Tư Mã Thiên (các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Nhữ Thành…). Một số loại sách đặc biệt khó đọc như Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp… thì người đọc nhất thiết phải tham khảo bản dịch sang Bạch thoại của Trung Quốc hoặc sang tiếng Việt (như của Nguyễn Thị Hảo), mới có thể hiểu được, vì đối với loại sách này, các học giả phần lớn phải khảo từng câu từng chữ để khám phá các ý nghĩa, chứ không ai đọc ron rót được.
Trung Quc, có khá nhiu sách công c để tra cu riêng cho tng th loi văn c, như có nhng sách tra riêng cho tiu thuyết, thơ Đường, nhân danh, địa danh T đin, t đin Hán c ph thông thì nên có ít nht 3 b, trước đây thông dng là Khang Hi tự điểnTừ nguyênTừ hải, còn bây giờ có thể chỉ cần Hán ngữ đại tự điểnHán ngữ đại từ điển và một bộ Từ hải là đủ. Bộ sau cùng vừa có tính ngôn ngữ vừa có tính bách khoa, còn hai quyển đầu tính cho đến hôm nay vẫn là công trình từ thư quốc gia lớn nhất của người Trung Quốc, nhưng nếu chưa có nhu cầu gì lớn, có thể chỉ cần mua bản rút gọn hay bản phổ cập (“súc ấn bản”, “phổ cập bản”) cho rẻ (cách nay mấy năm, giá ở các hiệu sách chừng 500-600 ngàn).
Mun đọc được ch Hán theo li phiên thiết, nên có bộ Khang Hi hoTừ hải bản in cũ (vì ấn bản mới, phần chú âm phiên thiết đã bị loại bỏ), nhưng nếu có cơ hội, nên tìm bộ Vương Lực Cổ Hán ngữ tự điển (Trung Hoa Thư Cục, 2000), trong đó phần chú âm phiên thiết rất rõ ràng mạch lạc. Về Hán ngữ cận đại, tức những từ ngữ xuất hiện từ khoảng Đường, Tống trở về sau, nên tham khảo quyển Cận đại Hán ngữ Từ điển của Tri Thức Xuất Bản Xã in năm 1992, hơi khó tìm, nhưng tôi được biết tại thư viện Tu viện Huệ Quang hiện có giữ được bản photo.  
Nên nh, mi loi sách đều có đặc đim ngôn ng và phong cách diễn đạt riêng, ai “chuyên trị” lĩnh vực nào thì chỉ quen đọc hiểu sành hơn trong lĩnh vực đó. Về Hán cổ mà thuộc Hán Nôm, nên tìm cho được bộ Cơ sở ngữ văn Hán Nôm do Lê Trí Viễn chủ biên, gồm 4 tập (NXB Giáo Dục, 1984-1987), trong đó riêng tập 4 có giới thiệu một số thể loại Hán văn đặc thù như Văn bia, Thần tích, Sắc, Luật lệ, Bằng, Trát, Bẩm, Biên từ, Đơn, Văn tự, Chúc thư, Gia phả, Văn cúng…của Việt Nam, mà nếu chỉ học cổ văn thông thường thì chúng ta không thể đọc hiểu chúng một cách chính xác.
Riêng đối vi các kinh lun, Pht thư, nó là mt loi ngôn ng pha trn gia Hán c vi cn đại (mt th Bch thoi c), có pha ln nhiu t phiên âm gc Phn ng nên đọc ra thy khác hn kinh truyn ca Nho gia, đặc bit là nhng tp ng lc ca thin sư Trung Hoa, Vit Nam. Khác v t vng ln ng pháp, như kiu cu trúc hành thâm thay vì thâm hành trong Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh, “như thị ngã văn” thay vì “ngã văn như thị” của hầu hết các kinh… Để đọc hiểu kinh Phật, chúng ta còn nên tham khảo thêm các loại từ điển riêng của Phật giáo. Ở Việt Nam ngoài quyển của Đoàn Trung Còn thông dụng đã lâu, hiện còn có thêm những quyển mới khác như Từ điển Phật học Hán Việt của Kim Cương Tử (chủ biên), Từ điển Phật học của Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách, Từ điển Phật học Huệ Quang (8 quyển, do Thích Minh Cảnh chủ biên), Phật Quang Đại từ điển (8 quyển) do Thích Quảng Độ dịch. Hai quyển sau cùng đầy đủ nhất, nhưng chi phí mua hơi cao (đều trên dưới 3 triệu đồng). Đặc biệt, nếu muốn đọc hiểu những thư tịch của Thiền Tông, chúng ta nên có thêm bộ Từ điển Thiền Tông Hán Việt do Hân Mẫn & Thích Thông Thiền biên dịch, trong đó chứa đựng rất nhiều đặc ngữ của Thiền Tông, khác hẳn với ngôn ngữ cổ thông thường và cũng không giống với Hán ngữ hiện đại. Ngoài ra, người học khi đã ở trình độ kha khá, có thể tham khảo thêm những kinh điển Phật giáo của người Trung Quốc dịch ra Bạch thoại, trong đó có những lời chú giải khá kỹ cho những chỗ dùng đặc biệt về ngữ nghĩa và ngữ pháp, đại khái như các sách Phật giáo nhập môn Tam tự kinh (Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 2002), Phật học Văn học Túy biên (Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 1999)…
Khi mi nhp môn bn có th dùng bt c loi sách t hc nào như đã k trên kia. Trong các sách này, các tác gi phn ln đều gii thiu qua mt s khái nim và tri thc cơ bn, như 6 phép cu to ch Hán (gi là Lc thư), gii thiu 214 b ch Hán truyn thng (các t đin mi v sau đã có ci cách, nên không còn đúng 214 b na), ch Hán phn th (viết đủ nét) và gin th (viết rút gn), cách tra và đọc ch Hán trong các loi t đin (theo b, theo s nét, theo t giác hiu mã…), cách viết ch Hán (theo li bút thun). Vic nm vng 6 phép cu to, cũng như hc thuc t t 214 b ch Hán có ý nghĩa rt quan trng, vì tuy nói ch Hán ngon ngoèo phc tp nhưng tht ra chúng cũng có quy c nht định. Nếu hiu được 6 cách cu to và thuc được dn dn các b ch Hán (tương đương như 214 ch cái), chúng ta đã nm được cái chìa khóa đầu tiên để đọc và nh được ch Hán mt cách không khó khăn lm. Ngoài ra ta còn có th căn c vào đó để đoán nghĩa tng quát cho mt s ch Hán mi gp. Chng hn đã biết ch đọc là “đồng (cùng, cùng nhau), thì có th đoán ra các ch cũng đọc “đồng nhưng ch th nht viết b mc thì có nghĩa liên quan đến cây ci (cây ngô đồng), ch th hai viết b trúc nên có nghĩa là cái ng, còn ch th ba viết b kim nên có th hiu là mt th kim loi có tên “đồng. Ch tiêm (nhn) cu to theo phép hi ý gm ch “đại dưới, ch tiu trên, bi vt gì trên nh dưới ln tt phi nhn
Mun đọc được nhng ch Hán l nhưng chưa được ghi trong các t đin Hán Vit đã xut bn, ta li phi hc thêm cách đọc phiên thiết, mà tôi đã có dp trình bày trong bài “Đọc ch Hán bng phương pháp phiên thiết đăng trong tp sách Suối Nguồn số 1 (tháng 5.2011).  
Đến đây, chúng ta vn chưa tr li hai câu hi hc ch Hán d hay khó, hc chng bao lâu là nhng câu hi mà bt k ai đang có ý định hc cũng nôn nóng mun biết.
đây xin mượn kinh nghim ca nhà văn hóa-hc gi Nguyn Hiến Lê (mà ông t đánh giá là ch có trình độ thông minh trung bình như phn đông mi người), k li trong cuTự học một nhu cầu thời đại mà tôi đã có dẫn trên kia. Ông học trong 4 vụ hè, mỗi vụ chừng 1 tháng thì đạt được số vốn chừng 1.000 chữ. Rồi học thêm 4 tháng nữa, mỗi ngày ít nhất 9 giờ và dụng ngữ học được tăng lên khoảng 3.000 chữ, cộng là 4.000. Lúc đó, nghĩa là sau 8 tháng học có gián đoạn, ông đã bắt đầu đọc Tam Quốc chí trong bản chữ Hán được. “Cuốn này văn rất giản dị, tôi lại biết truyện rồi, mà đọc cũng chỉ hiểu sáu phần mười mà thôi. Vậy một người thông minh trung bình học liên tiếp 6 tháng, mỗi ngày 7-8 giờ thì thuộc được độ 4.000 tiếng, tạm đủ để đọc những sách nho thông thường” (sđd., tr. 125).
Theo kinh nghim c Nguyn Hiến Lê, nên chia đon đường dài ra làm nhiu chng cho đỡ ngán, chng hn khi chưa biết mt ch Hán nào, nên lchặng đầu (từ 3 tới 6 tháng tùy theo thì giờ rảnh), học chừng 1.000 chữ và chút ít ngữ pháp. Chặng thứ nhì học thêm 1.500 chữ nữa và nhiều ngữ pháp (cũng từ 3 tới 6 tháng vì lúc này học đã dễ hơn trước rồi). Nhưng muốn thông chữ Hán thì còn phải học thêm nhiều nữa, phải nhớ điển tích, thuộc cổ văn và học lối chữ thảo (chữ viết tháu, tức thảo thư). “Những bạn nào muốn học chữ Nho mà còn do dự hãy mạnh bạo tiến đi! Dù chẳng tới nơi tới chốn thì ít nhất cũng thuộc được ít ngàn chữ thông thường. Một người Việt Nam có học thức không thể thiếu cái gốc chữ Hán ấy được” (sđd., tr. 135).
Tác gi Nguyn Hiến Lê còn nêu thêm kinh nghim dùng th để hc ch Hán, mi th dùng cho mt ch, như hc v ch (mai) thì ghi trên th: và s nét: 11; tên b và s nét: 4; cách đọc; nhng nghĩa ca nó; nhng t ng có ch mai; nhng nhn xét riêng v ch y, chng hn nên phân bit nó vi ch, vì c hai đều có b phn ch (mi) bên Khi hc được 3.000-4.000 ch s có được 3.000-4.000 th, nếu sp li theo b s có mt b t đin để dùng riêng, rt thích thú vì đó là kết qu công phu ca chính mình
Ngoài hai kinh nghim chia đon đường dài ra làm nhiu chng, và li hc th, ta không thy hc gi Nguyn Hiến Lê cung cp kinh nghim gì thêm. Tôi đã th m mt trang din đàn trên mng (Sachxua.net) nói v phương pháp hc tiếng Hoa thế nào cho có hiu qu, có hàng chc người tham gia đóng góp ý kiến-kinh nghim liên quan ch Hán c, nhưng tu trung cũng ch thy có my kinh nghim thông thường như sau ( đây ch xin tóm tt và ly ý viết li cho gn, mi gch đầu dòng là ý kiến ca mt người):                                    
            - Chu khó 1 ngày hc 1 bài trong giáo trình, hc c văn phm, t vng...chu khó tìm tòi t nguyên, ti sao nó có nghĩa như vy, s nh được lâu. Hc được khong 3000 t thì chu khó đọc sách tiếng Hoa mng mng, ri t t dy lên theo s vn t mình hc được.
            - Chuyn nh ch à? Vào trang t nguyên ca Richard Sears (Nguyễn Tiến Hải: http://www.chineseetymology.org/), cũng có gii nghĩa nhiu ch. C kiên nhn mi ngày mi hc s d. Ging như dy sm tp th dc. Dy được đã khó. Tp my ngày đầu thì rêm mình nhc my. Nhưng theo chng mt hai tháng thì quen.
            - Hc như thế nào thì hiu qu, điu đó cũng tùy thuc vào năng khiếu và điu kin ca tng người: (1) Khuynh hướng ca tng người: mi ngui có cách nh khác nhau, người thì nhìn và viết hoài s nh; người thì phi phân tích ti ci ngun mi nh; có người thích ghi nh qua âm thanh, phát âm đi chung vi t thì s nh; (2) Hoàn cnh: có người có nhân duyên tt, gp được thy gii sách hay, có tin mua tài liu hoc có thi gian rnh ri đi hc, có người thì phi my mò t hc thiếu nhng tài liu hay, không người ch dn nên b rt nhiu thi gian mà kết qu không cao. Do vy, phi biết được mình để xác định phương thc hiu qu nht.
            - Nên hc căn bn trước, nm được sơ sơ v các nguyên tc ca ch Hán ri thì c ôm Thiu Chu mà tng. Có ba điu lưu ý thế này: (1) Không nên hc thuc hết 214 b. Hc ngoi ng nhưng đừng bao gi có tư tưởng phi hc thuc cái gì. Ngôn ng là phi t nó ngm vào mình qua quá trình c xát, tiếp xúc ch ép vào đầu nhanh thì nó cũng ra khi đầu nhanh. C th đây, ch cn nm được vài chc b th thường gp để tra t đin là đã bao quát được gn hết các ch cơ bn ri; (2) Cách tng Thiu Chu là ch nào tiếng Vit mình còn dùng thì hc trước. Chính nhng ch đó v nghĩa mình cũng đã hiu sơ sơ ri, không cn câu n t nguyên nhiu quá. Nên hc t các tác phm, tt nht là các tác phm văn hc quen thuc cho d nh. Tuy vy, vi đặc thù ch Hán, nên nm được nghĩa riêng l và trong tương quan vi các ch khác; (3)
Không hc theo mt giáo trình nào c mà c thy ch Hán đâu thì m x bng t đin. Dù sao nó cũng là mt t ng ri, không th gi cách hc như mt sinh ng vi các bài text khi mà khó có th gp li trong cuc sng. Chính các câu đối, hoành phi, thơ ca ta gp mi là giáo trình sinh động và hiu qu nht.
            - Phương pháp phân tích ng pháp Hán c bng ký hiu ca Thích Minh Thanh (ging viên môn Hán c ti HVPGVN ti TP-HCM son) rt khoa hc và d hiu cho người hc, quen ri khi nhìn vào s hiu không cn phi dùng ký hiu na.
           Tại sao phải học thuộc 214 bộ chữ Hán khi mới nhập môn Hán cổ?: (1) Bộ thủ là thành phần cốt yếu của từ tiếng Hán, nó đóng vai trò gần như một "bộ chữ cái" trong tiếng Hán. Hầu hết các chữ trong 214 bộ thủ đều là chữ độc thể tự, là những chữ không thể phân tích nhỏ ra được nữa, nếu phân tích ra, các thành phần đều vô nghĩa, vì vậy phải học thuộc bộ thủ; (2) Tại sao phải nhớ? Để tra tự điển, tra tự điển theo bộ có phần dễ dàng hơn là đếm nét, vì đếm thường hay đếm sai. Tự điển Thiều Chửu là quyển tự điển thông dụng nhất mà người ta hay sử dụng khi học Hán cổ; (3) Chiết tự giúp nhớ lâu chữ Hán, đây mới là việc quan trọng.  Ví dụ: hưu có nghĩa là nghỉ ngơi, thì được ghép từ hai chữ nhân đứng và mộc, là việc lấy hình ảnh con người khi làm việc mệt, hoặc đi đường mệt thường tựa vào gốc cây (bộ mộc) để nghỉ, do đó ta có chữ “hưu” là nghỉ; (4) Đoán nghĩa của chữ: khi biết bộ thủ thì một cách tương đối ta có thể đoán được chung chung nghĩa của từ, như thấy bộ “thủy” là biết nghĩa sẽ liên quan đến sông nước, bộ mộc liên quan đến cây cối, bộ tâm liên quan đến tình chí, cảm xúc của con người.... Chiết tự xảy ra với cả ba mặt hình - âm - nghĩa của chữ Hán, nhưng chủ yếu là ở hai mặt hình và nghĩa. Chẳng hạn: “Ba xe kéo lê lên đàng, âm vang như sấm, đó là chữ “oanh. Chữ “oanh” được viết với ba chữ xa và có nghĩa là "tiếng động của nhiều xe cùng chạy" (chiết tự về mặt ý nghĩa)…
            - Thi gian hc dài: Người hc ch Trung Quc phi có nhiu (hai ba) năm mi nh được mt ch ca ba bn ngàn t thường dùng; nếu dùng li tượng thanh thì nhanh và đơn gin hơn; ch viết phc tp, nhiu nét: có nhng ch trên hai mươi lăm nét. Cái li ca ch Trung Hoa cũng hin nhiên: khi nh mt ch ca mt t thì người hc rt khó quên được ý nghĩa ca nó, chng hn ch an gm n (đàn bà) dưới miên (mái nhà) nên có nghĩa là an (an n), hoc ch minh gm nht (mt tri) và nguyt (mt trăng) nên có nghĩa là sáng. Như vy mi t ca Trung Hoa có tính cht sng động hơn t ca phương Tây và vì vy đọc mt bài thơ Trung Hoa viết bng ch Hán thì cm thy có ý nghĩa hơn, thú v hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra ch quc ng.
            Đối vi nhng người chưa biết nhiu v ch Hán, thì thường có mt quan nim sai lm là h c tưởng ch Hán rt khó hc. Tht ra không hoàn toàn đúng, nếu so sánh vi vic hc tiếng Anh, thì ch Hán d hc hơn. Lý do tht đơn gin vì người hc ch Hán ch cn nh được 3 ngàn ch đơn là có th đọc viết được các loi sách báo & tạp chí, trong khi người học chữ Anh phải cần phải nhớ đến hơn con số đó nhiều...
            - Có l vì món Hán c va khó, ng pháp phin nhiu, nht là ...các bn kinh ThưLuận ngữSở từ...nhiều câu, nhiều đoạn phải tự luận, hoặc đối chiếu với văn cảnh phía trên mới hiểu tàm tạm được…, thế nên chẳng có mấy người học được…Theo tôi, cứ cố gắng đọc, đọc không được, không hiểu văn bản thì đem tới hỏi các bậc cao nhân, tiếp đó, bổ túc thêm kiến thức về âm vận, ngôn ngữ lịch sử nữa (để đọc thêm chữ Nôm, nhất là Nôm thế kỷ XVII về trước).
            - Đọc các văn bn Hán c (Văn ngôn) ca Tàu như kinh ThưLuận ngữSở từ ..., nên tìm đọc các bản dịch Bạch thoại của chúng trước khi đọc chính văn thì sẽ dễ hiểu hơn (vì hầu hết các văn bản Hán cổ của Tàu đều đã được họ chú thích và dịch sang thể Bạch thoại). Còn về ngữ pháp Văn ngôn, chỉ cần nắm vững bốn hư từ Chi Hồ Giả Dã là đủ xài rồi. Nắm vững chúng ta sẽ phân tích được câu, mà đã phân tích được câu thì sẽ hiểu được văn bản, còn mức độ hiểu nhiều hay ít lại còn tùy thuộc vào kiến thức nền của mình!
            - Hc ch Hán, ngoi tr vic chuyên cn, chăm chú viết lách, còn phi c gng trau di nhng kiến thc liên ngành như lch s, văn hc, địa lý, ngoi ng, văn hóa-tư tưởng... Bi tiếng Hán, ch Hán ch là công c để t đó ta hiu hơn v ngôn ng, văn hóa ca dân tc và rng ra là c th gii! Vy, hc ch Hán c nâng cao cũng không th b qua yếu t văn hóa Trung Quc và đin tích Trung Hoa
            Trích dn ti đây, tôi tưởng chc cũng khó th nêu thêm được mt kinh nghim mi m nào khác. Phn kinh nghim cá nhân tôi, mc dù chng đáng k ra cho lm, nhưng thú tht tôi hc cũng không có bài bn, không có ghi chép k lưỡng như ông Nguyn Hiến Lê ch dn, mà ch theo cách mò đá qua sông (mô trước thch đầu quá hà”), va mò mm tiến ti va tích lũy kinh nghim. Do lúc còn rt tr thích văn chương, triết hc Trung Quc, nên v được b sách nào có chèn ch Hán trong đó, như sách Minh tâm bảo giám, bộ Nho giáo của Trần Trọng Kim, tập Đường thi của Ngô Tất Tố… thì đều để ý nhớ được một số câu chữ Hán có ý nghĩa sâu xa thâm trầm mà mình thích. Sau đó, chừng lớp đệ tam (tức lớp 10 bây giờ), tôi học thêm trong vài cuốn sách dạy chữ Hán của người đương thời biên soạn, nhưng không học hẳn cuốn nào, và cũng thiếu tính hệ thống. Trong lúc học, tôi đặc biệt thích môn ngữ pháp, vì sớm nhận ra rằng nếu không am hiểu ngữ pháp và các hư từ Hán cổ (đâu phải chỉ có CHI, HỒ, GIẢ, DÃ) thì khó dịch được chính xác chữ Hán cổ, mới tìm được mấy cuốn như Văn ngôn hư tự của Lữ Thúc Tương, Hư tự dụng pháp cập luyện tập của Chu Dực Tân, Cao đẳng quốc văn pháp của Dương Thụ Đạt… mua trong các tiệm sách cũ, mới ở Chợ Lớn.
Càng đọc (ch chưa phi hc) càng thy có s lôi cun, tôi mi liu mng t biên son mt tp ng pháp Hán văn ghi chép tay đầy trên 4 cun s bìa đen, cng li dày chng 800 trang giy carô kh ln. Cùng khong thi gian này, ngày nào tôi cũng vào Thư vin Quc gia Sài Gòn (bây gi là Thư vin Tng hp TP. HCM) và Thư vin Vin kho c (bây gi là Thư vin KHXH TP. HCM) ghi chép các tài tiu ch Hán và ch Pháp, biên son được mt quyn ly têLịch sử tiểu thuyết Trung Hoa, được một nhà xuất bản nhận in nhưng sau đó vì thời cuộc mà nhà xuất bản phải dẹp và mất luôn bản thảo. Riêng bản thảo về ngữ pháp mãi đến hơn 10 năm sau mới được chỉnh lý lại để xuất bản thành cuốn Sơ lược Ngữ pháp Hán văn (NXB TP. HCM), là một trong những sách ngữ pháp Hán cổ còn rất hiếm hoi ở Việt Nam trong những năm 80 của thế kỷ trước. Trước đó một thời gian, do phải sống trong một tình trạng gần như thất nghiệp, tôi rị mọ dịch đại quyển Lão Tàn du ký của Lưu Ngạc (1850-1910), một trong bốn bộ “khiển trách tiểu thuyết” tức tiểu thuyết hiện thực phê phán nổi tiếng của Trung Quốc (giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20), với trong tay chỉ có vỏn vẹn hai quyển từ điển của Đào Duy Anh và của Thiều Chửu (và dường như còn có thêm bộ Từ vị của Đài Loan xuất bản nữa, và một bản dịch tiếng Pháp của nhà Gallimard xuất bản dưới sự bảo trợ của UNESCO). Đến năm 1989 thì sách này mới được xuất bản.
Tôi dch không hay, mà bây gi gn như cũng đã quên đi, nếu đọc li chc chn s thy có mt s ch sai sót đáng tiếc, nhưng phi nhn rng sau ln dch đó, s dng ng th đắc được đã tăng tiến lên khá nhiu. Vy nếu nói kinh nghim, thì kinh nghim ca tôi là không đợi phi chín mui ri mi bt tay biên son, dch thut, mà làm ngay như th mt cách t ra bài tp cho mình làm, làm đến đâu hc thêm đến đó. Gi đây, được biết có mt s bn đồng thanh khí ca tôi cũng tiến b được bng con đường tương t như thế. Điu này qu đúng vi li khuyên ca c hc gi Nguyn Hiến Lê, cũng là tên mt chương trong quyTự học… của ông: “Viết sách và dịch sách cũng là một cách để tự học”.
            Tôi t xét không phi thuc hng người thông minh hoc có ý chí st đá. Còn nói kinh nghim, tht ra cũng chng có h thng kinh nghim nào cho ra hn c, mà dường như chính s đam mê, t đó hng thú, đã dn dt người ta t tìm ly con đường hc tp thích hp cho chính mình. Đã có hng thú thì không còn biết n nhc mt tìm tòi cho dù thc khuya dy sm, t đó luôn tay tra cu , th bt thích quyn (tay không ri sách), dn dn thâm nhp, thông qua mt quá trình kh hc mà không cm thy kh, công phu mà không thy b sc công phu, để đạt được nhng k năng mong mun lúc nào không hay. V chăng, kinh nghim nếu tht là kinh nghim thì cũng khó trao truyn, như câu chuyn “Đọc sách cổ” k trong Cổ học tinh hoa (của Nguyễn Văn Ngọc-Trần Lê Nhân), với lời bình của dịch giả: “… Cái hay nhiều khi miệng không thể nói ra được, bút không thể tả hết được… Những kẻ hay mượn bã giả của cổ nhân để buông ra những học thuyết dông dài làm ra sách vở để dạy đời, ta tưởng cũng lầm lắm”.  

(Ch Hán được viết trên th tre. Nguồn: www.forum.thuhoavn.com)
            Nói chung không nên tin có mt bí quyết hay bí kíp thn thông nào c. Ch có th khng định mt kinh nghim đúng cho hu hết mi người, đó là hc bt k môn gì cũng nên bt đầu t lúc còn tr, còn có tinh thn hăng hái. Đợi đến t quá bn mươi tr lên nhit huyết không còn, trí nh cũng suy kém đi nhiu, mt ch tra t đin đôi khi đến hơn mười ln vn không nh được!
            Trong điu kin hin nay, nếu được tiếp cn vi mt lp hc chuyên tu ch Hán (như các lp khoa chuyên Văn trường đại hc, Trường cao cp Pht hc, Tu vin Hu Quang và mt s chùa chin khác) ri t hc thêm thì s đỡ vt v và mau tiến b hơn nhiu, vì ít ra cũng có thy hướng dn vi s ràng buc và chương trình để theo. Nhưng cui cùng mun tht s gii thì cũng phi t hc thêm, bng tt c mi phương tin, mà hin nay đang rt phong phú so vi thi trước. Nên thường xuyên đọc mi loi sách ch Hán c mình thích, ri t tp dch nhng bài t ngn đến dài, t d đến khó, ch nào không biết c hi người khác gii hơn hoc tra t đin. Các cun sách tra cu cũng là ông thy vì tht ra ông thy cũng hc t các sách v mà ra. Điu quan trng là không câu n, cũng không nht thiết phi có mt ông thy hay cun sách nào nht định, theo li hc rng m vô thường sư chi hu ca Khng T và tn tín thư bt như vô thư” ca Mnh T. Nếu có ý định dch thut thì càng phi đọc sách cho nhiu để tích lũy kiến thc và rèn luyn k năng, ngoài ch Hán ra phi trau di thêm tiếng Vit để luôn ci tiến ngh thut din đạt, hành văn.  
            Nói v thi gian cn dành ra, cũng như mc độ thành tu và nhng cnh gii có th đạt được trong vic hc ch Hán thì nó cũng mênh mông lm. Hc để đọc được sách báo ph thông hoc vài đon kinh Pht thông thường thì có khác hơn hc vi trình độ thâm cu, dch thut, tr tác nghiêm túc.
            Nghe k, có mt dch gi chuyên dch tiếng Nga, sau tiếng Nga ít dùng, chuyn qua t hc ch Hán ch trong vòng vài tháng, đã dch được đến mt, hai chc tác phm ch Hán. Đó là mt s tht đáng n. Dch gi đó hin nay đã quá c, chúng ta không hi nhưng đoán chc ông là người thông minh, và hc theo cách va làm va hc mi mau được như vy. Để đạt được nhng công trình có cht lượng đi vào chiu sâu vi nhng đề tài khó khăn hơn, chc phi mt thi gian nhiu hơn. Cách nay my năm, báo chí phn khi đưa tin, nh s h tr ca công c máy vi tính, người ta có th dch trn b Đại tng kinh t Hán ra Vit ch mt khong 24 tiếng đồng h, nhưng tht ra đây ch là mt o tưởng phát sinh trong lúc vi vi vàng vàng quá tin tưởng vào s thn diu ca máy móc. Bi c cho như máy tính lp trình sn có th giúp ta được mt phn bng cách dch tng ch Hán này ra tng ch Vit kia, thì công tác biên tp li cho tròn vành rõ nghĩa sao cho va d hiu va có ý v văn chương cũng phi mt thi gian thm chí còn lâu hơn c li dch th công c truyn na, tr khi máy tính có th làm thay con người tt c mi th.
            Óc thc dng đôi khi tt nhưng không phi lúc nào cũng tt cho vic hc tp ch Hán c. Bi vì, ngay trong các kinh sách Hán c, nht là kinh Pht, dường như đã cha đựng sn s phê phán óc thc dng đó ri. Trong vic hc ch Hán c, cn thc hc không cn hư danh, bi nếu ch chuyên ch chy theo hư danh, hoc quyn li đơn thun vt cht, rt khó đạt được kết qu m mãn, vì tinh thn thiếu s chuyên nht, tp trung. Nhưng như vy cũng có mt nghĩa khác có l phi tm chp nhn, là bng con đường hc ch Hán c và ch Nôm, ít ai có th làm giàu lên được! Nếu chn được mt công vic va hp s thích va tm đủ ăn qua ngày, như thế đã là may mn và hnh phúc lm ri. Còn đối vi mt s nhà sư dch kinh Pht, thì tính bt v li li càng rõ hơn, ch cn ăn chay nim Pht mi ngày, các thy vn có th hoan h làm vic hăng hái được.          
            Các nhà nghiên cu ghi nhn ch Hán có đến khong 85.000 đơn t nhưng s lượng thc tế s dng ch nm trong khong t 6.000 đến trên 12.000. Nếu không tính nhng ch thuc loi chuyên dùng thì s ch được dùng ch vào khong 6-7 ngàn, như vy nếu siêng hc liên tc chng 2 năm có th nh được. Tuy nhiên b hc thì mênh mông, nhiu khi để đọc được mt đon Hán c, người ta phi kho tng ch ch không th đọc như đọc sách báo thông thường được, và kinh nghim thc tế cho thy lm khi ch mt ch nào đó trong cùng văn bn nào đó mà nhiu nhà chú gii ging không ging nhau, các t đin cũng gii khác nhau, không biết ai trúng ai trt, h ai có lý thì tm được đa s chp nhn. Nhiu t ng đọc mãi không hiu mà tra hết các sách vn không ch nào giúp cho ta gii hoc được. Chính vì vy mà đức khiêm tn trong hc vn có l là mt th đạo đức đáng được đề cao, trong tinh thn càng hc càng thy mình càng kém, và cái đạo ca hc vn, nói theo Mnh T, không phi là th gì khác, chng qua ch là để tìm li cái tâm cht ca mình đã b đánh mt đi mà thôi, tc có nghĩa không để cho mình vì s tăng trưởng ca tri thc mà tr nên ngã mn, đến b vong thân, tha hóa, mình không là mình (Hc vn chi đạo vô tha, cu k phóng tâm nhi dĩ hĩ). Còn nói theo Lão T thì Vi hc nht ích, vi đạo nht tn, tn chi hu tn, dĩ chí ư vô vi (Theo đường hc thì mi ngày mt tăng thêm, theo đường đạo thì mi ngày mt gim đi, gim ri li gim, cho đến lúc ch còn s không). Người ta nói, hc ch Nho cũng là hc đạo, để khám phá tin nhân và soi ri li chính mình, nhm ci thin cuc sng ch yếu v phương din tâm linh ch không phi vt cht, có phi là nhng nghĩa như thế này chăng?
                                                                                                                                                             
NgunĐặc san Suối Nguồn, số 3 & 4, tháng 1.2012