Monday, February 29, 2016

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.7)

 
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái
Khi nói về hành trình 4.000 năm của người Do Thái, chúng ta không thể không nhắc đến Chủ nghĩa Zion (Zionism), điểm sáng cuối cùng đã làm nên bước ngoặt của lịch sử Do Thái mà trên đó ý tưởng về Nhà nước Do Thái ngày nay đã nẩy mầm, lớn lên và kết thành cây trái ngay trên mảnh đất cổ xưa Canaan thấm đẫm máu và nước mắt.

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.6)

 
Hình: Một gia đình người Do Thái ở Ấn Độ. Nguồn: Wikipedia.
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Cộng đồng Do thái lưu vong sau năm 70 CN
Trước Công nguyên, do kết quả những cuộc xâm lăng, người Do Thái bị lưu đầy sang vùng đất Mesopotamia, đặc biệt là thủ phủ Babylon, rồi Ai Cập. Năm 70 CN, Ngôi Đền Jerusalem bị san bằng, hàng ngàn người Do Thái bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ và bị lưu đầy phân tán đi khắp các miền của Đế quốc La Mã. Vào thời gian này có khoảng bảy triệu người Do Thái cư ngụ bên trong biên giới của Đế quốc La Mã, chiếm 10% dân số, và một triệu người sống bên ngoài biên giới chủ yếu ở Babylon.

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.5)

 
Hình: Sách Kinh Talmud. Nguồn: jewishjournal.com.
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Cộng đồng người Do Thái lưu vong
Có thể nói cuộc xâm lăng Vương quốc Israel phương Bắc của người Assyria vào năm 720 TCN đã khởi đầu phong trào lưu vong (Diaspora) của người Do Thái sang các vùng đất khác trên thế giới, hình thành nên các Cộng đồng Do Thái lưu vong. Phong trào lưu vong càng phát triển mạnh vào cuối thế kỷ thứ nhất sau công lịch sau cuộc nổi dậy của người Do Thái chống lại người La Mã bị thất bại và quân La Mã phá hủy và san bằng Jerusalem vào năm 70. Có người bị ép buộc di cư. Có người tự ý. Dân tộc Do Thái bắt đầu cuộc đời trôi nổi, lang thang khắp Trung Đông, Địa Trung Hải và châu Âu qua nhiều thế kỷ.

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.4)

 
Hình: Các rabbi trong một lần họp mặt tại Brooklyn, Hoa Kỳ, 2012. Nguồn: NBC.
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Những dấu ấn văn hóa lớn
Thời đại của các Ngôn Sứ [thế kỷ 8 – thế k 5 TCN]
Một phần ba của Kinh Thánh Hebrew được viết bởi các ngôn sứ hay còn gọi là tiên tri (prophets). Theo ngữ nghĩa, nevi'im, trong tiếng Hebrew là ngôn s hay tiên tri, tức là người phát ngôn thay mặt Thiên Chúa, nhân danh Thiên Chúa. Họ có đặc sủng nhìn thấy những viễn ảnh qua sự linh ứng của Thiên Chúa. Ngoài chức năng nhân danh Thiên Chúa, ngôn sứ còn đóng những vai trò chính trị quan trọng trong xã hội, là người tư vấn cho hoàng gia, khởi xướng tình cảm quốc dân và hướng dẫn đạo đức cho xã hội. Nói cách khác, ngôn sứ là người đại diện cho lương tâm của Thiên Chúa, bênh vực cho công lý và con người.

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.3)

 
Hình: Mô hình Đền Jerusalem được phục dựng năm 1966. Nguồn: Wikipedia. 
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Những vị vua vĩ đại ban đầu Saul, David, Solomon
Saul là một nông dân thuộc bộ tộc Benjamin, là bộ tộc chịu rất nhiều tổn thất do những cuộc tấn công của người Philistines. Tại thời điểm khi người Do Thái đòi hỏi cần phải có một chính quyền trung ương dưới sự cai trị của một vị vua, và sau rất nhiều lựa chọn khó khăn, Saul đã được nhà tiên tri Samuel xức dầu[1] và trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Thống nhất Israel gồm 12 bộ tộc [1052 TCN]. Saul rất hiểu hoàn cảnh lúc đó của người Do Thái, và theo Sách Samuel, Saul rất thành công trong việc chiến đấu với kẻ thù từ mọi phía – người Philistines, Edomites và Ammonites, người Gibeonites, và người du mục Moabites. Trong thời gian trị vì, Saul và vị tổng chỉ huy quân đội đã xây dựng nên lực lượng quân đội chuyên nghiệp đầu tiên của Israel gồm các đơn vị dựa trên đặc điểm của các bộ tộc và lãnh thổ. Tuy nhiên, theo Sách Samuel, Saul đã đôi lần không vâng lời nhà tiên tri Samuel và cuối cùng thì Samuel đã tuyên bố rằng Thiên Chúa đã từ chối Saul trong vai trò của một vị vua. Đến thời điểm này thì "nhân vật" David bước vào câu chuyện của cung đình.

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.2)

Hình: Hình minh họa từ Sách Joshua. Nguồn: Wikipedia.
 
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Trở về Cannaan
Sách Joshua (The Book of Joshua – cuốn thứ 6 trong Kinh Thánh Hebrew), kể lại chuyện đoàn người Do Thái do Joshua dẫn đầu đã vượt sông Jordan và bao vây thành cổ Jericho,[1] rồi thổi vang kèn chiến thắng và kéo đổ tường thành vào ngày thứ bảy của cuộc tấn công. Câu chuyện trên được viện dẫn từ Kinh Thánh. Còn chuyện thực là như thế nào?

Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1)

Hình: Hành trình của Abraham tới Canaan. Nguồn: Wikipedia.
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
"Mọi sự đều sẽ hết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các thế lực khác sẽ qua đi, nhưng Họ vẫn còn. Bí mật trong sự bất tử của Họ là gì?" – Văn hào Mark Twain
Người Do Thái trên vùng đất Israel (Canaan)
Sự ra đời của đức tin

Sunday, February 28, 2016

Moses đã ảnh hưởng tới lịch sử Hoa Kỳ như thế nào?


Tượng nữ thần tự do (the goddess of liberty) có hai biểu tượng liên quan đến Moses: vừng hào quang quanh đầu và bảng đá trong cánh tay nữ thần, cả hai có xuất xứ từ giờ phút Moses xuống Núi Sinai với Mười điều răn của Chúa. Ngụ ý: Tự do phải đi liền với luật pháp.

Nguồn: Bruce Feiler, “How Moses Shaped America“, Time, 12/10/2009.

Biên dịch: Trần Ngọc Cư

Từ thời Cách mạng giành độc lập cho đến thời Chiến tranh lạnh, người anh hùng trong Cựu Ước luôn là biểu tượng tôn giáo dùng để định nghĩa nhiều biến cố trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày nay ta có thể rút tỉa được ý nghĩa nào từ nhân vật Moses?

Saturday, February 27, 2016

6000 từ tiếng Hàn thường gặp nhất (1626-1650)

Tác·giả: Nguyễn·Tiến·Hải

6000 từ tiếng Hàn thường gặp nhất sắp·xếp theo tần·số xuất·hiện  (Từ đầu·tiên là từ xuất·hiện nhiều nhất)


1626. 반갑다         |  () vui (형용사) = glad, happy
1627. 부족             | 不足 (bất túc) thiếu, không đủ (명사) = lack
1628. 실시             | 實施 (thực thi) thực thi (luật, chế·độ) (명사)
                                 | = (법률·제도 등의) implementation
1629. 운명             | 運命 (vận mệnh) vận mệnh (명사) = fate, destiny
1630. 재정             | 財政 (tài chính) tài chính (명사) = finance
1631. 차라리         |  () thà..còn hơn (부사) = rather..than
1632. 학자              | 學者 (học giả) [학짜] học giả (명사) = scholar
1633. 다녀오다     |  () đi rồi về (동사) = go and come back
1634. 달다              |  () treo, gắn, đính lên (동) = to hang up, to attach
1635. 대규모         | 大規模 (đại quy mô) đại quy mô (명사) = large scale
1636.                   | (đồng) cùng một loại, giống nhau (관형) = the same
1637. 민간              | 民間 (dân gian) dân gian; tư·nhân (명사) = common people, private
1638. 법원              | 法院 (pháp viện) pháp viện (tòa án) (명사) = court
1639. 비디오          |  () video (명사) = video
1640. 사실상          | 事實上 (sự thực thượng) thực sự (명사) = actually
1641. 아끼다          |  () tiết·kiệm (동사) = (절약하다) save (on)
1642. 이쪽              |  () lối này ([대명사]) = this way
1643. 지대              | 地帶 (địa đái) khu đất, khu·vực (명사) = zone
1644. 판단하다     | 判斷 (phán đoán) phán xét (동사) = to make a conclusion
1645. 행복하다     | 幸福 (hạnh·phúc) hạnh·phúc (형용사) = happy
1646. 굽다              |  () nướng (동사) = to roast, to bake
1647. 기름              |  () dầu, mỡ (명사) = oil, fat
1648. 실천하다     | 實踐 (thực·tiễn) thực·hiện (동사) = to practice
1649. 쏟아지다     |  () đổ ào, trút xuống (동사) = to pour
1650. 연습              | 練習 (luyện·tập) luyện tập (명사) = practice

Các ví·dụ với mỗi từ

[Song] 시간을 달려서 (Rough) - 여자친구



Chiến tranh 1979 dưới con mắt một viên tướng TQ

Posted on 18/02/2016 by The Observer



Tác giả: Lưu Á Châu

Dưới đây là trích dẫn từ bài phát biểu tại căn cứ Không quân Côn Minh – Vân Nam của Lưu Á Châu, Trung tướng, Chính ủy Đại học Quốc Phòng Trung Quốc. Qua đó bạn đọc có thể tìm hiểu một vấn đề lịch sử nhìn từ phía bên kia và thấy rõ hơn “cung cách” Trung Quốc ứng xử với thế giới hiện đại.

Sau khi kể “Giấc mơ quân đội và đất nước hùng mạnh”, tướng Lưu nói về việc “quân đội Trung Quốc đã hai lần phát huy vai trò chính trị quan trọng”.

Cuộc chiến Việt Nam 1979

Saturday, February 20, 2016

Cách CIA điều hành một ‘gián điệp tỷ đô’ ở Moskva

Posted on 03/08/2015 by The Observer
Nguồn: David E. Hoffman, "How the CIA ran a 'billion dollar spy' in Moscow", The Washington Post, 04/7/2015.
Biên dịch: Trần Anh Phúc | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Hình: Chân dung Adolf Tolkachev treo trong trụ sở CIA. Nguồn: Trích từ cuốn sách.


Động cơ nào mà một nhà khoa học hàng đầu của Liên Xô bán mình làm điệp viên cho Mỹ, tiết kiệm cho Mỹ hơn 2 tỉ USD nghiên cứu phát triển vũ khí?

"Tolkachev đã bị thôi thúc bởi mong muốn trả thù lịch sử. Mẹ của vợ ông bị hành quyết và người cha thì bị gửi đến các trại lao động trong giai đoạn Đại khủng bố những năm 1930 dưới thời Joseph Stalin. Ông cũng mô tả mình là bị vỡ mộng về chủ nghĩa cộng sản và “là một người bất đồng chính kiến ngay trong sâu thẳm tâm hồn”. Ông muốn tấn công lại hệ thống Xô-viết và đã làm như vậy bằng cách cung cấp bí mật quân sự cho Hoa Kỳ. Các nhân viên CIA điều hành Tolkachev thường quan sát thấy rằng dường như ông quyết tâm gây ra thiệt hại tối đa có thể cho Liên Xô, bất chấp những rủi ro. Hình phạt dành cho tội phản quốc là tử hình. Tolkachev không muốn chết dưới tay KGB. Ông yêu cầu và nhận được một viên thuốc tự tử từ CIA để sử dụng nếu ông bị bắt.
Điệp viên đã biến mất.

Mật mã khóa công khai: hành trình 35 năm

Tác giả: Phan Dương Hiệu
Published: 12/04/2011
(Một phiên bản ngắn hơn của bài này sẽ đăng trong số kỷ niệm 20 năm báo Tia Sáng. Các bạn có thể xem tại đây)
Mã hóa khóa công khai ra đời cách đây 35 năm, đánh dấu bởi công trình khoa học của Whitfield Diffie và Martin Hellman. Đó thực sự là một bước ngoặt đưa mật mã từ một nghệ thuật thành một ngành khoa học. Trong quá trình 35 năm phát triển, những phát kiến trong mật mã hầu hết rất phản trực quan, và do đó càng bất ngờ thú vị, đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành khoa học khác: áp dụng những kết quả trừu tượng trong lý thuyết số vào thực tế; thúc đẩy sự phát triển của các thuật toán xác suất; đưa ra những khái niệm quan trọng trong lý thuyết tính toán mà điển hình là khái niệm chứng minh tương tác; tạo cầu nối giữa lý thuyết số và khoa học máy tính thông qua lý thuyết số tính toán… Trong bài này, chúng tôi sẽ điểm sơ qua sự phát triển của mật mã trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác, và thảo luận về những hướng phát triển của mật mã trong những năm tới.

Thay đổi trong cách tiếp cận tính an toàn.
Từ ngàn xưa con người ta đã có nhu cầu trao đổi bí mật: từ những mệnh lệnh trong các cuộc chiến tranh cho đến những hẹn hò thường nhật. Ta tìm thấy vết tích của mật mã từ thời Ai cập cổ đại, cho tới hệ mã nổi tiếng mà Ceasar dùng trong thời La mã, cho tới bức thư tình mà George Sand gửi cho Alfred de Musset… Ở thời kỳ sơ khai, mật mã có thể coi như nghệ thuật che giấu thông tin mà độ an toàn đạt được là nhờ có sự thống nhất một qui ước bí mật chung. Như vậy, thuật toán lập mã và giải mã là bí mật. Nhưng khi tầm ứng dụng càng rộng thì yêu cầu bí mật cơ chế mã lại càng không hợp lý vì nhiều người sử dụng nên tất yếu sẽ rất dễ bị lộ. Cuối thế kỷ 19, Kerckhoffs đề nghị một nguyên tắc xem xét độ an toàn chỉ dựa trên khóa bí mật còn thuật toán lập mã/giải mã không cần phải giữ kín. Qui tắc này đến nay vẫn còn là rất cơ bản. Xuyên suốt thế kỷ vừa qua, người ta đã xây dựng được rất nhiều các cơ chế mã tốt, với độ an toàn dựa trên sự bảo mật của khóa chung giữa người gửi và người nhận. Tuy vậy, sự cần thiết chia sẻ khóa bí mật là một điểm bất thuận lợi, nó là rào cản lớn cho việc trao đổi thông tin trên diện rộng: ví dụ để thiết lập kênh bí mật đôi mội giữa một nghìn người thì cần tới cả nửa triệu khóa bí mật.
Mật mã khóa công khai đã vượt qua rào cản đó và đưa đến một bước ngoặt trong sự phát triển ngành mật mã. Ý tưởng chính của nó khá giản đơn:

Friday, February 19, 2016

Tại sao khoa học Việt Nam còn kém?

Nguyễn Văn Tuấn
Một phần của câu trả lời cho câu hỏi trên có thể tìm thấy trong entry dưới đây, vốn là của một bạn đọc ẩn danh gửi cho tôi ngày hôm qua. Tôi đặt những tiêu đề và có gọt bỏ những chỗ có tên thiết bị để bảo mật cho vị bạn đọc. Tôi xin chân thành cám ơn bạn đọc.

====
"Kính gửi thầy Tuấn,

Em công tác tại một trường đại học được coi là có uy tín ở Việt Nam, cũng từng tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học. Hôm nay em mới đọc bài của thầy về công bố quốc tế của VN mà bức xúc vô cùng. Vì điều kiện không cho phép bài tỏ ý kiến công khai, nên em muốn được nói đôi điều với thầy.

Phần đầu bài viết thầy đề cập đến các con số về công bố quốc tế của VN, em không dám góp ý gì. Song, đến nửa cuối, khi nói về nguyên nhân của sự yếu kém của khoa học Việt Nam, em thấy thầy phản ánh chưa sát thực tế. Có thể thầy tránh không nêu lên, hoặc do thầy ở nước ngoài nên không rõ tình hình.

Wednesday, February 17, 2016

Encyclopædia Britannica 1911: "Người Việt ưa nhàn hạ, giả dối, và không thể xa nhà lâu"

"Mặc dù thích nhàn hạ nhưng người An Nam chăm chỉ hơn những dân tộc láng giềng...Họ tỏ ra kính trọng bề trên và cha mẹ, nhưng họ không chân thật và không có cảm xúc mạnh. Họ yêu quê hương, xóm làng, và không thể ở xa nhà lâu ngày. Những thói hư của họ gồm có cờ bạc, hút thuốc phiện, một chút kiêu căng và giả dối. Nhìn chung thì họ hoà nhã, dễ chịu, và thậm chí là thờ ơ, nhưng đáng nói là họ có thể học rất dễ dàng." (Wikipedia tiếng Việt)
Nguyên văn:
"Though fond of ease the Annamese are more industrious than the neighbouring peoples. Theatrical and musical entertainments are popular among them. They show much outward respect for superiors and parents, but they are insincere and incapable of deep emotion. They cherish great love of their native soil and native village and cannot remain long from home. A proneness to gambling and opium-smoking, and a tinge of vanity and deceitfulness, are their less estimable traits. On the whole they are mild and easy-going and even apathetic, but the facility with which they learn is remarkable. Like their neighbours the Cambodians and the Chinese, the Annamese have a great respect for the dead, and ancestor worship constitutes the national religion. The learned hold the doctrine of Confucius, and Buddhism, alloyed with much popular superstition, has some influence. Like the Chinese the Annamese bury their dead." (https://en.wikisource.org/wiki/1911_Encyclop%C3%A6dia_Britannica/Annam)





Tuesday, February 16, 2016

Friday, February 12, 2016

Ứng dụng toán học – “Mảnh đất hứa” đầy chông gai

Tác giả: Phạm Huy Điển


   Image Source: http://spikedmath.com/446.html



Lâu nay không ít người cảm thấy thất vọng vì đã "uổng công" học Toán. Nghe người ta nói thì Toán học là "chìa khóa" cho mọi vấn đề, nhưng trên thực tế thì học sinh sau khi tốt nghiệp lại chẳng biết dùng kiến thức Toán đã học được trong nhà trường vào việc gì trong cuộc sống, nhất là những bài toán khó mà họ đã tốn bao công sức nhồi nhét trong các "lò luyện" đủ loại. Đây là một thực tế, xuất phát từ việc xác định nội dung và phương pháp dạy Toán không hợp lý trong các nhà trường hiện nay. Toán học đã bị biến thành một môn "đánh đố thuần túy", thay vì một bộ môn khoa học mang đầy chất thực tiễn. Tuy nhiên, còn một lý do khác khiến chúng ta không nhìn thấy được bóng dáng của Toán học trong thực tiễn thường ngày, đó là Toán học ngày nay không mấy khi trực tiếp đi được vào các ứng dụng trong thực tiễn mà thường phải "ẩn" sau các ngành khoa học khác: Sinh học, Môi trường, Tài chính, Kinh tế… và thậm chí ngay cả Công nghệ thông tin, một lĩnh vực có thể xem như là được sinh ra từ Toán học. Đã có những ý kiến nói về sự lãng phí của nguồn nhân lực đang làm Toán hiện nay và không ít người cũng đã tưởng là thật…

Wednesday, February 10, 2016

Trung Quốc gồng mình cân bằng quan hệ hai miền Triều Tiên

Thứ tư, 10/2/2016 | 19:00 GMT+7
Vụ phóng tên lửa hôm 7/2 cho thấy Trung Quốc sẽ gặp muôn vàn khó khăn để duy trì quan hệ tốt với cả Hàn Quốc và Triều Tiên.
 
Nhà ngoại giao Wu Dawei (giữa) trong chuyến công du tới Bình Nhưỡng hôm 4/2. Ảnh: AP.
 
Khi trở về từ chuyến công du Triều Tiên cuối tuần trước, cựu quan chức ngoại giao Trung Quốc Wu Dawei có lẽ hiểu rằng chuyến công du với mục đích thuyết phục nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong-un rút lại quyết định phóng tên lửa đã trở thành công cốc, theo New York Times.

Người Nhật giữ lại truyền thống gì khi ăn tết Dương lịch?

Trước đây, Nhật Bản ănTết theo Âm lịch nhưng đã chuyển sang ăn Tết theo Dương lịch kể từ năm 1873. Người Nhật gọi dịp này là “Oshogatsu”, như một sự kiện để vinh danh vị thần Toshigamisama.
Từ năm 1844 đến ngày 31/12/1872 (ngày 2/12 năm Minh Trị thứ 5), người Nhật đón Tết theo lịch Thiên Bảo. Ngày 3/12 năm Minh Trị thứ 5 được sửa đổi thành ngày 1/1 năm Minh Trị thứ 6 (năm 1873). Việc sửa đổi này đã được chính phủ công bố vào ngày 9/11 năm Minh Trị thứ 5 (9/12/1872) và được áp dụng vào tháng sau đó.


Người dân Nhật Bản thả bóng bay đón năm mới 2016 tại tháp Tokyo, thủ đô Tokyo, Nhật Bản. 

Nhờ việc thay đổi lịch này mà chính phủ đã tiết kiệm được tiền trả lương tháng 13 cho công chức (vì nếu tính theo lịch cũ thì năm Minh Trị thứ 6 có tháng 6 là tháng nhuận) và giảm bớt ngày nghỉ, tăng sản lượng quốc gia.

Tổ tiên người Việt là người Trung Hoa?

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
20/4/2010

Sau entry hôm qua bàn về cô Đỗ Ngọc Bích, người mà BBCVietnamese giới thiệu là tiến sĩ và đang là giảng viên của Đại học Yale, nhưng tôi có viết rằng không tìm thấy tên cô Bích trong website Đại học Yale. một người bạn bên Mĩ có gửi email cho tôi với lời đính chính của Gs Erik Harms như sau:

"From: Erik Harms
Sent: Monday, April 19, 2010 2:02 PM
Subject: Important Correction to Article

Xin Chào,

Tôi tên là Erik Harms, hiện là Assistant Professor of Anthropology (Phó Giáo sư, khoa nhân học) tại Đại học Yale.

Tôi rất ngạc nhiên khi đọc bài ý kiến (opinion piece) của Nghiên cứu sinh Đỗ Ngọc Bích trên mạng BBC. Tôi ngạc nhiên bởi vì BBC đã cho các độc giả nghĩ phải là cô Bích là Tiến sĩ đang dạy tại ĐH Yale. Thông tin này hoàn toàn sai. Cô Bích hiện là sinh viên cao học tại Đại học Hawaii, đang học (nhưng chưa có bằng) tiến sĩ trong khoa Hoa Kỳ Học (American Studies). Tôi xin BBC tiếng Việt điều chỉnh lại thông tin này.

Cô Bích đang sống ở New Haven, nhưng cô ấy không làm việc cho Yale. Mọi người đều có phép phát biểu ý kiến cá nhân của mình, và tôi sẽ không bao giờ "điều chỉnh" nội dung của bài cá nhân của cô Bích. Nhưng, tôi cũng nghĩ là độc giả phải biết bài ấy là một ý kiến cá nhân của cô ấy, và không đại diện ý kiến của trung tâm Đông Nam Á học tại Yale.

Xin cám ơn

Erik Harms"
Chú ý là email viết tiếng Việt không dấu, nên tôi đánh dấu để dễ đọc.

Như vậy những gì tôi viết hôm qua là đúng: cô Bích không phải là người của Yale và cũng chưa bao giờ giảng dạy tại Yale. BBCVietnamese bị lường gạt rồi chăng?

NVT

===

Entry 19/4/2010

Mấy hôm nay dư luận có vẻ xôn xao về một bài báo của một người có tên là Đỗ Ngọc Bích viết về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam mà cô dùng những từ tương đối trịch thượng và mỉa mai như “mù quáng”, “bài xích”, “rên rỉ”. Lập luận của cô ĐNB có thể gói gọn trong giả định quan trọng này: “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”, rồi đi từ giả định đó, cô cho rằng những phản ứng của người Việt trước hành động xâm lấn và giết hại người Việt là cực đoan, là mù quáng, gây tác hại hơn là đem lại lợi ích. Có lẽ cái thông điệp ngầm mà cô muốn nói cho người Việt là nên buông tay, quay về với tổ tiên Trung Hoa, và trở thành một huyện hay gì đó của Trung Quốc. Tôi biết cô chưa viết ra điều này, nhưng cái thông điệp đó bàng bạc trong bài viết.

Vậy thì chúng ta phải xem xét giả định của cô Bích có đúng không.

Nhân đọc “Eden in the East”: Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
 
Hỏi một người Việt bình thường về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, câu trả lời mà người ta thường nghe là tổ tiên của chúng ta xuất phát từ Trung Quốc.  Ngay cả người có kiến thức rộng, có quan tâm đến dân tộc và văn hóa Việt cũng có những ý kiến tương tự.  Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn hóa Sử cương;  và Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, cũng từng cho rằng người Việt có nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc [1] hay từ Tây Tạng [2], dù họ có chút dè dặt và thận trọng trong phát biểu.  Gần đây, một người làm chính trị nhưng có quan tâm đến văn hóa Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng, trong Tổ quốc ăn năn, cũng cho rằng nước Văn Lang xưa kia là do người Trung Quốc sáng lập [3] ra. 

Magformers introduction (Intelligent Magnetic Construction Set for Brain Development)




http://www.magformers.com/

Northern Affairs (Vụ áp·phe miền Bắc)

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Tôi nghĩ cái dư âm còn lại sau kết quả bầu bán trong đại hội vừa qua có vẻ là vấn đề mất cân đối vùng miền trong phân bố nhân sự chóp bu. Đọc bài trên BBC dưới đây (1) mới biết là trước đó đã có người trong nội bộ nêu vấn đề. Một bài luận trên Người Việt (2) cũng tỏ ra quan ngại cho tình trạng này, và nhà bình luận nói, sự mất cân đối đó chỉ làm lợi cho Tàu.

Thật ra, không chỉ trong chính trị, mà trong khoa học và giáo dục cũng xảy ra tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng giữa ba miền. Tôi thử đếm con số giáo sư được phong năm 2014 và 2015 thì thấy đa số ứng viên được phong là người từ miền Bắc. Chẳng hạn như năm 2015, có 52 người được phong hàm giáo sư; trong số này, 41 (hay 79%) là người từ các trường viện miền Bắc. Năm 2014, con số này là 73%. Phân bố cụ thể số giáo sư được phong như sau: