Tuesday, June 18, 2013

Nhân cách không thể phát triển một cách dễ dàng và tĩnh lặng

"Tính cách mỗi người không thể phát triển một cách dễ dàng và tĩnh lặng. Chỉ thông qua kinh nghiệm thử thách và đau khổ, tâm hồn mới có thể mạnh mẽ hơn, khát vọng hoài bão được khơi dậy, và thành công sẽ đạt được." -- Helen Keller, nhà giáo dục học mù và điếc người Mỹ (1880 - 1968)

"Character cannot be developed in ease and quiet. Only through experience of trial and suffering can the soul be strengthened, ambition inspired, and success achieved." -- Helen Keller, US blind & deaf educator (1880 - 1968).

Helen Keller có câu nói nổi tiếng "Tôi đã khóc vì không có giày để đi chỉ đến khi tôi gặp một người khóc vì không có chân để đi giày". Bà là người phụ nữ mù và điếc bẩm sinh đầu tiên ở Mỹ lấy được bằng đại học. http://en.wikipedia.org/wiki/Helen_Keller

 

Nguyễn Tiến Hải.

Thursday, June 13, 2013

Ảnh-hưởng thần-học Do-Thái và Ki-tô-giáo trong niềm tin đạo Hồi

Tác-giả: Charlie-Nguyễn

(The Judeo - Christian Theology in Muslim Beliefs)

Trong lịch sử văn hóa Tây Phương, Abraham là người đầu tiên đưa ra chủ thuyết chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất (The Unity God) vào khoảng năm 2000 TCN. Do đó, Abraham được coi là ông tổ chung của các đạo Độc Thần (Monotheism) tức là các đạo Thiên Chúa. Năm 1250 TCN, Maisen (Moses) canh cải lại đạo của Abraham với sách Torah (Law) để thành lập ra đạo Do Thái như hiện nay (Mosaic Judaism). Đạo này còn được gọi là đạo Maisen để phân biệt với đạo Do Thái cũ của Abraham (Abrahmie Judaism).

Đầu thế kỷ 1 sau Công Nguyên, Jesus sinh ra và lớn lên trong lòng đạo Do Thái đã có những tư tưởng cải cách tôn giáo và xã hội. Sau 3 năm rao giảng chủ thuyết của mình, Jesus đã bị đế quốc La Mã giết chết vào năm 30 sau Công Nguyên. Bốn mươi năm sau khi Jesus chết, một số người ở Hy Lạp viết sách kể chuyện cuộc đời và thuật lại những lời nói của Jesus. Những sách này được gọi là sách Tin Mừng (Good News), tiếng Hy Lạp gọi là Gospel, người Tàu dịch là Phúc Âm. Các sách Phúc Âm đã biến Jesus thành Thiên Chúa của đạo Ki Tô.

Đến đầu thế kỷ 7, một thương gia tên Muhammad tại thành phố Mecca, thuộc xứ Arabia, đã bỏ ra 23 năm ròng rã để viết sách Qu'ran (Koran) thuật lại những điều Thiên Chúa phán dạy qua trung gian là thiên thần Gabriel. Muhammad không nhận mình là tác giả của kinh Koran mà chỉ là người thuật lại mà thôi ( a reciter).

Lê Nin và tổ tiên Do Thái của ông ta

Friday, November 2, 2012


Lê Nin và tổ tiên Do Thái của ông ta




http://www.sueddeutsche.de/kultur/verschwoerungstheorien-lenin-und-sein-juedischer-urgrossvater-1.1065462
http://inosmi.ru/history/20110228/166930202.html
Người dịch: theviewingplatform


Ở Liên Xô chi tiết tiểu sử về tổ tiên của Lê Nin, hóa ra, là người Do Thái, được giữ trong tuyệt mật. Người Do Thái thì làm sao? Tưởng có thể đặt dấu chấm hết lên điều đó, song vấn đề này đã và vẫn tiếp tục là cơ sở cho các giả thuyết về âm mưu lật đổ. Tất cả câu chuyện này được kể rõ trong một cuốn sách mới được phát hành.

Jesus dưới cái nhìn của Do-Thái-giáo và Hồi-giáo

Tác-giả: Charlie-Nguyễn


Theo con số thống kê của "Time Almanach 2001" thì Ki Tô Giáo, tức Cơ Đốc Giáo (Christianity) là tôn giáo có số lượng tín đồ lớn nhất thế giới, chiếm 1/3 dân số toàn thể nhân loại.


Dân số thế giới hiện nay là 5 tỷ 929 triệu.


Số lượng tín đồ Ki Tô Giáo (Christians) là: 1 tỷ 943 triệu.


Mặc dầu gần hai tỷ người đó đều tự nhận là tín đồ Ki Tô (Christians) nhưng họ thuộc về nhiều giáo hội khác nhau, với những tín điều và nghi lễ khác nhau. Nói chung, những người theo Ki Tô Giáo có thể được chia thành 5 nhóm tôn giáo sau đây:


1. Công Giáo La Mã: 1 tỷ 026 triệu (trực thuộc Vatican)


2. Các giáo phái Tin Lành: 316 triệu (trên 200 giáo phái chống đối Vatican)


3. Chính Thống Giáo: 213 triệu (phần lớn ở Đông Âu, Nga và Bắc Phi)


4. Anh Giáo: 63 triệu (nghi lễ giống Công Giáo nhưng không thuộc Vatican)


5. Các nhóm Ki Tô Giáo độc lập: 373 triệu (Unaffiliated Christians)


Qua gần hai ngàn năm lịch sử, Ki Tô Giáo đã bị phân hóa trầm trọng và những cuộc thánh chiến tương tàn giữa những người anh em có cùng niềm tin vào Chúa Ki Tô đã làm tiêu hao nhiều chục triệu sinh linh. Nhưng có một sự kiện nổi bật trong lịch sử là: Dù cho những người Ki Tô Giáo chống đối nhau, thậm chí giết nhau như cuộc xung đột Công Giáo Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan hoặc xung đột giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo ở Nam Tư, nhưng họ vẫn có chung một niềm tin: Jesus là Chúa Cứu Thế (Messiah/Christ).


Qua lăng kính tâm linh của các tín đồ Ki Tô Giáo, Jesus là đấng Messiah với những thuộc tính sau đây:


1. Ngài là Thiên Chúa hóa thân thành người (God in human form).


2. Ngài chết để chuộc tội tổ tông của loài người


3. Ngài sống lại lên trời và sẽ xuống thế gian lần thứ hai vào ngày tận thế để xét xử mọi người sống và chết (mọi người chết sẽ sống lại để được xét xử)


Như chúng ta đã biết, Do Thái và Hồi Giáo cũng là những đạo thờ Thiên Chúa nhưng cả hai đều phủ nhận Jesus là Messiah với những thuộc tính nói trên.


Hai tôn giáo Do Thái và Hồi đã đưa ra những luận cứ nào để bác bỏ tư cách Messiah (Kitô) của Jesus? Đó là nội dung chính yếu của bài viết này.


 I. QUAN ĐIỂM CỦA DO THÁI GIÁO VỀ JESUS


 Jesus là một người có thật, bằng xương bằng thịt, đã được sinh ra ở Do Thái cách đây gần 2000 năm. 


Nhưng ý niệm về Messiah (Chúa Cứu Thế/ Chúa Ki Tô) là một sản phẩm đặc biệt trong tư duy của dân tộc Do Thái. Để tìm một định nghĩa xác thực nhất về Messiah, thiết tưởng không có gì đáng tin cậy hơn là Tự Điển Bách Khoa về Đạo Do Thái (The Shengold Jewish Encyclopedia).


Niềm tin vào Đấng Messiah (Messianism) được định nghĩa như sau: "Niềm tin vào đấng Messiah là niềm tin rằng: dân tộc Do Thái và toàn thể nhân loại được dẫn đến một thời đại hoàng kim, trong đó nền công lý toàn hảo và nền hòa bình thế giới được thực hiện bởi đấng Messiah. Ngài là vị vua lý tưởng và là một người toàn hảo. Danh từ "Messiah" có nghĩa là "Người được xức dầu", đây là một phương cách cổ xưa để tôn vinh một người được trao trọng trách đặc biệt. Danh từ "Messiah Adonai" có nghĩa là "Người được Thiên Chúa xức dầu". Đây là một danh hiệu do Cựu Ước dùng để gọi các vị vua của Israel. Các vị tiên tri trong kinh Thánh mô tả Messiah là một người được Thiên Chúa chỉ định, một vị lãnh đạo lý tưởng để đưa toàn thế giới đến nền công chính và hòa bình. Qua nhiều thế kỷ lưu lạc, dân tộc Do Thái vẫn tiếp tục ước mơ về sự xuất hiện của đấng Messiah".


(Messianism: The belief that the Jewish people and all humanity would be led to a Golden Age of perfect justice and universal peace by a Messiah, an ideal king and a perfect man. The Hebrew Messiah means "one anointed man with oil", the ancient way of dedicating a man to a special service. Messiah Donai - The Anointed of God - was a title of honor given in the Bible to the Kings of Israel. The prophets described the Messiah as a divinely appointed man, an ideal ruler who would lead the world in righteousness and in peace.


During the long centuries of exile, the Jewish people continued to dream of the Messiah).


Qua định nghĩa "Messiah" nói trên của người Do Thái, ta thấy sứ mạng của "Chúa Cứu Thế" chính danh phải là người thực hiện được nền hòa bình thực sự và nền công chính toàn hảo trên khắp thế giới. Xét theo tiêu chuẩn này, mọi người đều sẽ nhận rõ rằng: Jesus chỉ là một kẻ vô dụng vì y chưa từng bao giờ góp được một chút công lao nào cho nền công chính và hòa bình của nhân loại.


Trong Kinh Thánh Cựu Ước có nhiều điều tiên tri về Messiah. Nhưng Jesus chưa từng bao giờ thực hiện được một điều nào để chứng tỏ ông ta là Messiah cả. Thí dụ:


- Tiên tri Isaiah (thế kỷ 8 TCN) định nghĩa Messiah là đấng "giải thoát mọi người bị áp bức" (To let the oppressed go free - Isaiah 6: 9 và 6: 1-2). Thử hỏi Jesus đã giải thoát được một người nào bị áp bức trên thế gian này?


- Isaiah cũng nói: Đấng Messiah sẽ gom góp toàn dân Do Thái trở về đất Israel (Gather all Jews back to the land of Israel - Isaiah 43: 5-6). Lịch sử Do Thái đã chứng minh ngược lại: Jesus chết khoảng năm 30. Đến năm 70 thì Israel bị quân La Mã đánh chiếm và tiêu diệt người Do Thái vô số kể. Đến nỗi người Do Thái sợ bi diệt chủng nên đã bỏ xứ lánh nạn khắp nơi trên thế giới. Gần 19 thế kỷ sau (1949) thì Liên Hiệp Quốc (không phải Jesus) đã gom dân Do Thái về Israel!


- Tiên tri Zechariah nói: Đấng Messiah là vua cai trị toàn thế giới (King over all the world - Zech. 14: 19) Điều này thì trong 2000 năm qua và cho đến muôn kiếp về sau chẳng bao giờ Jesus có thể thực hiện được!


- Tiên tri Isaiah xác định: Messiah phải là người thuộc dòng vua David theo phụ hệ (Messiah must be decended on his father's side from King David.


- Isaiah 11: 1) Jesus có mẹ đồng trinh nên không có cha, vậy y làm sao thuộc dòng David theo phụ hệ được? Do đó, Jesus không có tư cách Messiah.


- Người Do Thái hoàn toàn bác bỏ tính cách Thiên Chúa của Jesus vì Cựu Ước dạy "Thiên Chúa chỉ có Một" (The Lord is One - Dent 6: 4) và "Thiên Chúa là vĩnh cửu, vượt thời gian. Ngài là vô cùng, vượt không gian. Ngài không thể được sinh ra và không thể chết" (God is eternal above time. He is infinite above space. He cannot be born and cannot die - Numbers 23: 19). Jesus đã được sinh ra bởi bà Maria và đã chết dù chỉ chết 3 ngày 3 đêm) nên Jesus không thể là Thiên Chúa vì Thiên Chúa không chết dù chỉ trong giây phút.


Người Do Thái vẫn chờ đợi sự xuất hiện của đấng Messiah. Điều đó có nghĩa là đấng Messiah chưa từng bao giờ xuất hiện trên thế gian này. Đối với họ, Jesus không hề thực hiện được một điều nào Cựu Ước đã tiên tri về Messiah nên Jesus không bao giờ được dân tộc Do Thái công nhận. Người Do Thái cũng phủ nhận sự tái lâm của Jesus vì thần học của đạo Do Thái khẳng định Messiah chỉ đến một lần và không bao giờ trở lại. (No second coming of Messiah).


Dân tộc Do Thái rất kiên trì trong niềm tin tôn giáo vì họ tin tưởng rằng đạo Do Thái là đạo duy nhất do Thiên Chúa mặc khải cho cả quốc gia (a national revelation). Truyền thuyết về Messiah là sản phẩm tâm linh của cả dân tộc Do Thái. Họ không ngờ truyền thuyết này đã trở thành chiếc boomerang quay ngược lại tiêu diệt dân tộc mình. Trong gần hai ngàn năm qua, họ luôn luôn phủ nhận tư cách Messiah của Jesus. Hậu quả thảm khốc là nhiều triệu người Do Thái đã bị giết nhưng vẫn chưa đủ đền mạng của một người Do Thái được người ta tôn vinh là Đấng Messiah!


 II. QUAN ĐIỂM CỦA HỒI GIÁO VỀ JESUS


Khi nghiên cứu về Hồi Giáo, chúng ta sẽ ngạc nhiên nhận thấy người Hồi Giáo - nhất là Hồi Giáo Ả Rập - rất quan tâm và viết khá nhiều về Jesus.


Tiến sĩ Tarif Khalidi, giáo sư môn ngôn ngữ học Ả Rập tại Đại Học Cambridge, đã thu thập được 303 câu chuyện (stories) qua hàng trăm cuốn sách bằng tiếng Ả Rập viết về Jesus.


Ông đúc kết lại thành sách "The Muslim Jesus". Nguyên bản bằng tiếng Ả Rập. Bản dịch Anh ngữ 246 trang do Havard University Press xuất bản 2001. Tựa đề của cuốn sách ngụ ý Jesus không phải là người Do Thái, cũng không phải là giáo chủ đạo Ki Tô mà là một tín đồ Hồi Giáo. Cũng tương tự như Jesus, Abraham và Moises đều được người Hồi Giáo coi là những người đồng đạo của họ. Muhammad khẳng định: "Abraham không phải là Do Thái hay Ki Tô. Abraham, Moises và Jesus đều là những tín đồ Hồi Giáo. (Abraham was not a Jew nor yet a Christian. Abraham, Moises and Jesus are Muslims - Koran 3: 67).


Người Hồi Giáo cho rằng: các tín đồ Ki Tô đã hiểu sai về Jesus và chỉ có người Hồi Giáo mới có cái nhìn đích thực về một "Jesus Thật" (The Real Jesus).


Tất cả những quan niệm của người Hồi Giáo về Jesus đều được Muhammad truyền dạy trong kinh Koran qua những câu thơ rải rác trong 15 chương sách. Chúng ta cũng biết rằng kinh Koran là Kinh Thánh của Hồi Giáo (The Holy Bible of Islam). Đối với các tín đồ Hồi Giáo, Jesus thật là Jesus được mô tả trong kinh Koran (Quranic Jesus). Đó chính là Jesus trong đức tin Hồi Giáo:


- Kinh Koran ca ngợi Jesus là tiên tri của Thiên Chúa (a prophet of God) là sứ giả của Chúa (a messenger of God) là tiếng nói và tinh thần của Thiên Chúa Allah (the Word and the Spirit of Allah) (Koran 3: 45).


- Kinh Koran ca ngợi Jesus có tài tranh biện vì được Thiên Chúa ban sức mạnh tinh thần thánh thiện (God gave Jesus clear arguments and strenghten him with the holy spirit - Koran 2: 87). Thiên Chúa dạy dỗ Jesus sự khôn ngoan và sự hiểu biết về kinh Thánh Cựu Ước, Tân Ước (Allah taught him the wisdom, and the Tawrah, the Injil - Koran 3: 48) Jesus có khả năng chữa lành những kẻ mù hoặc những kẻ cùi hủi và khiến cho kẻ chết sống lại với sự cho phép của Thiên Chúa Allah (Jesus heals the blind and the leprous and bring the death to life with Allah's permission - Koran 3: 49)


- Hồi Giáo công nhận Jesus được sinh ra bởi bà Maria đồng trinh (And She who guarded her chastity - Koran 21: 91). Koran nhắc lại lời của bà I-sa-ve (mẹ của Gioan) chúc mừng bà Maria: "Thiên Chúa Allah đã chọn bà trên hết mọi người nữ ở thế gian này" (Allah has chosen you above the women of the world! - Koran 3: 42).


- Hồi Giáo tin rằng Jesus sẽ trở lại thế gian vào ngày phán xét cuối cùng nhưng chỉ với tư cách nhân chứng mà thôi. Vị thẩm phán tối cao xét xử mọi người là Thiên Chúa Allah. (On the day of Resurrection Jesus shall be a witness - Koran 4: 159).


- Hồi Giáo không nói Jesus đã từ kẻ chết sống lại, nhưng tin rằng Thiên Chúa Allah đã đưa Jesus về trời. (Allah took him up to Himself - Koran 4: 158)


Mặc dầu Hồi giáo tôn vinh Jesus như trên nhưng họ hoàn toàn phủ nhận tư cách Thiên Chúa hoặc Con Thiên Chúa của Jesus. Koran khẳng định: "Thật là nhục mạ Thiên Chúa đối với những kẻ nói Jesus, con của Maria, là Thiên Chúa. Jesus không là gì khác hơn là tôi tớ của Thiên Chúa mà thôi" (They do blaspheme who say God is Jesus, son of Maria. He was no more than a servant of God - Koran 5: 72-75).


Jesus không phải là một sinh vật linh thiêng mà chỉ là một người thường như chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa Jesus cũng giống như Adam, tất cả đều được Thiên Chúa dựng lên bằng tro bụi. (Surely, the likeness of Jesus is with Allah as the likeness of Adam. He created him from dust - Koran 3: 59). Sở dĩ Jesus được coi là một người đặc biệt vì ông ta được Thiên Chúa Allah ban cho đặc ân và ngài biến ông ta thành một gương sáng cho con cháu của dân tộc Do Thái. (Jesus, son of Mary, was naught but a servant on whom God bestowed favor and made him an example for the children of Israel - Koran 43: 59).


- Hồi Giáo kịch liệt chống lại Thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi. Kinh Koran luôn luôn nhắc đi nhắc lại điều quan trọng nhất của đạo Hồi là: Thiên Chúa chỉ có Một. Ngài không sinh con và không do ai sinh ra. Không có một người nào giống Thiên Chúa cả. (Say not three Deists, Allah is One. Koran 4: 117, Say, He, Allah is One. He begets not, nor is He begotten and none is like Him. Koran 112: 1-4)


Thiên Chúa không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai đồng hóa với Ngài - Bất cứ ai gán ghép một cái gì đó vào Thiên Chúa đều phạm tội trọng. (Surely, Allah does not forgive that anything should be associated with him - Whoever associated anything with Allah he devises indeed a great sin - Koran 4: 48)


- Hồi Giáo phủ nhận việc Jesus bị đóng đinh trên thập giá (They - the Jews - killed him not nor cruxified him - Koran 3: 59) đồng thời phủ nhận "tội tổ tông" của Adam và Eva, mặc dầu Hồi Giáo cũng tin hai vị này là tổ tiên của loài người. Nói cách khác, Hồi Giáo hoàn toàn phủ nhận lập luận của đạo Ki Tô cho rằng đã chịu chết trên thập giá chuộc tội tổ tông để cứu loài người.


Đọc kinh Koran, mọi người sẽ nhận thấy thái độ rất rõ rệt của Hồi Giáo đối với Ki Tô Giáo:


Một mặt, người Hồi Giáo rất tôn kính Jesus. Mặt khác người Hồi Giáo tỏ thái độ thù nghịch đối với các tín đồ Ki Tô Giáo vì người Ki Tô vi phạm những điều cấm kỵ hết sức nghiêm ngặt của đạo Hồi là tuyệt đối cấm thờ bất cứ một ai ngoài Thiên Chúa Allah và cấm thờ ảnh tượng. Muhammad qui trách nhiệm cho những người Do Thái lập đạo Ki Tô đã ngụy tạo Lời Chúa và viết thêm những điều bậy bạ vào Thánh Kinh làm cho Ki Tô Giáo trở thành một tà đạo. Muhammad viết:


- "Những người Do Thái (lập đạo Ki Tô) là những kẻ đã thay đổi Lời Chúa hoặc xuyên tạc Lời Chúa bằng miệng lưỡi của họ và nhạo báng đạo của Chúa" (of those who are Jews there are those who alter the words of God... distorting the words with their tongues and taunting about religion - Koran 4: 46).


- "Thật là một thảm họa cho những kẻ viết Thánh Kinh bằng bàn tay của họ rồi nói rằng sách đó do Thiên Chúa ban cho" (Woe, then, to those who write the Book with their hands and then say: This is from Allah - Koran 2: 79).


Muhammad ca ngợi Jesus là người hết lòng tôn thờ Thiên Chúa Allah - kinh Koran có thuật lại lời cầu nguyện của Jesus như sau:


"Vinh danh Chúa Allah. Chúa biết những gì con nghĩ trong đầu nhưng con không biết điều gì trong ý Chúa. Chỉ có chúa là Đấng Thông Biết mọi sự".


(Glory to Allah. Thou knowest what is in my mind and I do not know what is in Thy mind. Surely Thou art the great knower of the unseen things - Koran 5:117)


Đối với đạo Hồi, Jesus được coi là một người công chính giống như tiên tri Elisha của đạo Do Thái. Kinh Koran viết: "Jesus và Elisha đều chung một hàng của những người Công Chính".


(Jesus and Elisha were all in the rank of the Righteous. Koran 6: 85)


Nhưng các tín đồ Ki Tô Giáo lại bị người Hồi Giáo coi là "những kẻ không tin Chúa" (The disbelievers) và họ sẽ phải chịu hình phạt sau đây do người Hồi Giáo dành cho họ:


"Chúng ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ không tin đạo. Cho nên, hãy chặt đầu chúng và bứt hết các đầu ngón tay của chúng!" (We will cast terror into the hearts of those who disbelieve. Therefore strike off their heads and strike off every fingertips of them - Koran 8: 12).


Nguồn: trích từ sách "Thực Chất Đạo Công Giáo và Các Đạo Thờ Chúa" của Charlie Nguyễn.


http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=243

Những điều chưa biết về người Do Thái

Tác-giả: Nguyễn-Hải-Hoành

Đông Tác giao lưu, Chủ Nhật 30, Tháng Mười Hai 2007

Ảnh: thành cổ Jerusalem.

Dân tộc Do Thái vẫn theo chế độ mẫu hệ ?

Dân tộc Do Thái có lịch sử lâu đời và một nền văn hóa xán lạn cũng như truyền thống dân tộc hết sức độc đáo. Suốt mấy nghìn năm qua, họ bị các dân tộc khác bắt nạt và bài xích, xua đuổi. Trước tình trạng dân tộc bị đe dọa tiêu vong, nhằm ngăn chặn sự đồng hóa bởi các dân tộc khác, gìn giữ tính trong sạch dân tộc và sự đoàn kết nội bộ, luật pháp của đạo Do Thái đặt ra các quy định hết sức khắt khe cấm người Do Thái lấy vợ lấy chồng là người thuộc dân tộc khác.

Thời cổ, người Do Thái thà cho phép anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha lấy nhau mà không cho họ lấy người dân tộc khác. Thời cận đại, các quy định có nới lỏng hơn, như cho phép người Do Thái lấy người dân tộc khác; tuy vậy vẫn khống chế khá chặt chẽ, cho nên rất hiếm trường hợp người Do Thái kết hôn với người dân tộc khác. Theo quy định, ai lấy người Do Thái thì phải theo đạo Do Thái; nếu là đàn ông thì phải làm lễ cắt da (cắt da bao quy đầu dương vật).

Cho tới nay, ta vẫn có thể nói người Do Thái theo chế độ mẫu hệ. Đó là vì theo phong tục của dân tộc này, chỉ cần mẹ là người Do Thái thì dù bố là người dân tộc khác, con họ đẻ ra vẫn được thừa nhận là người Do Thái. Nhưng nếu mẹ không phải là người Do Thái, thì dù bố là người Do Thái đi nữa, con đẻ của họ vẫn không được thừa nhận là người Do Thái.

Quan niệm luân lý này không giống với hầu hết các dân tộc khác trên thế giới. Đó là vì, theo luật của đạo Do Thái, người nào có ít nhất một nửa huyết thống Do Thái mới được thừa nhận là người Do Thái. Trường hợp mẹ là người Do Thái, thì dù bố không phải là người Do Thái, con do mẹ đẻ ra ít nhất cũng có một nửa dòng máu Do Thái, cho nên được thừa nhận là người Do Thái. Trường hợp mẹ không phải là người Do Thái, thì dù bố là người Do Thái đi nữa, nhưng nếu mẹ ngoại tình (có chửa với người không Do Thái) – nghĩa là bố của đứa bé đẻ ra có thể không phải là người Do Thái, khi ấy khó có thể bảo đảm đứa con có một nửa dòng máu Do Thái. Nhằm bảo đảm tính thuần khiết của dân tộc, pháp luật của đạo Do Thái không thừa nhận con của người phụ nữ không phải Do Thái là người Do Thái.

Vì sao sứ quán các nước ngoài tại Israel lại không đặt ở thủ đô nước này ?

Thủ đô hiện nay của nước cộng hòa Israel là Jerusalem, có khoảng hơn 660 nghìn dân. Theo thông lệ quốc tế, lẽ ra sứ quán các nước ngoài tại Israel phải đặt ở thủ đô nước này. Nhưng trong thực tế thì họ đều đặt sứ quán tại thành phố Tel Aviv, là đô thị lớn nhất Israel, có hơn 2 triệu dân. Vì sao lại có lệ đặc biệt như vậy ?

Tất cả là do tình hình chính trị phức tạp của Israel. Ngày 14-5-1948, Israel tuyên bố độc lập, chọn Tel Aviv là thủ đô nước mình. Ngay hôm sau, các nước A-rập như Ai-cập, Jordan, Syria, Lebanon, Iraq và A-rập Xê-ut đem quân xâm nhập Israel. Một cuộc chiến tranh nổ ra; ai ngờ phần thắng lại thuộc về Israel với 2 triệu dân chứ không phải các nước A-rập với hơn 100 triệu dân. Sau đó các nước A-rập ký hòa ước riêng rẽ với Israel. Năm 1950, Israel quyết định lấy Jerusalem làm thủ đô nước mình. Ngày 30-7-1980, Quốc hội Israel thông qua sắc luật đơn phương tuyên bố “Jerusalem thống nhất” là “thủ đô vĩnh viễn và không thể chia cắt” của Israel. Nhưng người Palestine thì lại kiên trì quan điểm Jerusalem là vùng đất của họ, là thủ đô của người Palestine. Liên Hợp Quốc và đa số các nước trên thế giới đều không thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Bởi vậy các nước có quan hệ ngoại giao với Israel đều vẫn đặt sứ quán của mình tại Tel Aviv chứ không dọn đến Jerusalem, kể cả sứ quán Mỹ, Anh là hai nước ủng hộ Israel tích cực nhất; vì nếu đặt sứ quán tại Jerusalem thì có nghĩa là thừa nhận đây là thủ đô của nước này, nói cách khác là đi ngược lại lập trường của mình ủng hộ phong trào giải phóng Palestine. Cũng với lý do như thế, phái đoàn các nước khi đến thăm Israel đều không giao thiệp với chính quyền thành phố Jerusalem của Israel.

Dĩ nhiên chính phủ Israel dùng mọi cách để khuyến khích các nước có quan hệ ngoại giao với mình đều đặt sứ quán tại Jerusalem, như tuyên bố sẽ miễn tiền thuê đất làm sứ quán, miễn thu toàn bộ các chi phí điện, nước, thông tin liên lạc. Dù có nhiều chính sách ưu đãi như vậy nhưng cho tới nay chỉ có một số ít nước Nam Mỹ đặt sứ quán tại Jerusalem mà thôi.

Vì sao phái đoàn các nước khi đến Israel đều không lập tức gặp chính quyền Israel ngay?

Thông thường, phái đoàn nước ngoài khi đến thăm một quốc gia nào đó, việc đầu tiên bao giờ cũng phải được chính quyền nước chủ nhà tiếp, hội đàm rồi sau đó mới có các hoạt động khác. Nhưng phái đoàn các nước ngoài khi đến Israel bao giờ cũng được bố trí đi thăm Nhà Kỷ niệm diệt chủng người Do Thái, đặt trên đồi Kỷ niệm Jerusalem, sau đó mới hội đàm với chính quyền nước chủ nhà. Đây là sự thu xếp có chủ ý của phía Israel. Trong đại chiến II, một nửa trong tổng số 12 triệu người Do Thái đã bị phát xít Đức tàn sát. Tội ác này được trưng bày trong Nhà Kỷ niệm Diệt chủng. Tới thăm Nhà Kỷ niệm này, người ta sẽ thấy rõ quá trình lịch sử đau khổ của người Do Thái. Trong cuộc xung đột với người Palestine ròng rã mấy chục năm qua, chính phủ Israel luôn luôn giữ lập trường cứng rắn không thỏa hiệp; lập trường này bị phần lớn cộng đồng thế giới lên án. Vì thế, chính phủ Israel bao giờ cũng bố trí cho phái đoàn nước ngoài trước tiên đi thăm Nhà Kỷ niệm diệt chủng để hiểu tình trạng đau khổ của dân tộc Do Thái, qua đó thông cảm và đồng tình với đường lối coi an ninh của người Do Thái là ưu tiên số một của chính phủ Israel.

Nguyễn Hải Hoành

Nguồn: Đông Tác Giao Lưu, http://van-hien.vn/spip.php?article1471

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế?

Đông Tác giao lưu, Chủ Nhật 10, Tháng Năm 2009

Tác-giả: Nguyễn-Hải-Hoành


Karl Marx, Alan Greenspan, Paul Krugman, George Soros, Michael Bloomberg...đều là những người gốc Do Thái rất thành công.

Ảnh

Ảnh: chủ sòng bạc Sheldon Adelson là người Do Thái giàu nhất ở Mỹ hiện nay với tài sản 26,5 tỷ USD


Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế