Sunday, January 30, 2011

Một·vài khác·biệt giữa hai ngôn·ngữ Nhật-Việt

Mục đích của bài viết này không có ý định đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ của hai đất nước, mà chỉ là một chút quan sát với góc cạnh mà bình thường ít ai để ý tới chúng mà thôi. Do đó bài viết không đặt nặng tính học thuật lắm

Phần I. Người ta nói con người không ai thấy được gương mặt của mình. Người ở Tokyo chả khi nào trèo lên tháp Tokyo cả mà chỉ có người từ nơi khác đến hiếu kỳ mới trèo lên mà thôi. Điều này ở mặt nào đó thì rất đúng, nó thể hiện rõ qua nhiều khía cạnh như văn hóa, tập quán và đặc biệt là ngôn ngữ.

Nhiều dân tộc không có thói quen tự ý thức về tiếng nói của mình. Phần lớn người ta vẫn nói theo thói quen, đời trước dạy thế nào thì đời sau bắt chước chứ ít bỏ công ra mà suy sét cái mình đang dùng.

Hẳn là người Việt cũng thế, nhiều khi họ nói mà không để ý xem mình đang nói điều gì. Trong tiếng Việt cũng có khá nhiều điểm lý thú nhưng nếu không dụng tâm quan sát thì không thấy được. Nhưng người ngoại quốc khi học tiếng Việt thì họ lại chú ý tới những điểm lạ của tiếng Việt mà người bản xứ chả mấy ai ngờ.

Một người Nhật khi học tiếng Việt đã tự hỏi, tại sao bố tương đương với ba, cha, mẹ tương đương với má. Thế tại sao nói "ba mẹ", "ba má", "cha mẹ", "bố mẹ" mà không nói "bố má" hay "cha má" ?

Monday, January 24, 2011

Việt-ngữ tinh-nghĩa từ-điển

Sách điện-tử: Việt-ngữ tinh-nghĩa từ-điển

Tác-giả: Long-Điền Nguyễn-Văn-Minh

Nhà-xuất-bản: Quảng-Vạn-Thành

Nơi xuất-bản: Hà-Nội

Năm xuất-bản: 1950

Link download: https://docs.google.com/uc?id=0B-fSriMZY_UuZDZmMDNhMWMtZGM0OC00YmVlLThiNzAtMTAzMjBjNjllM2Uz&export=download&hl=en

Từ-điển này giải-thích nghĩa và cách dùng các từ gần nghĩa như "những" với"các", ....

Vấn·đề tiếng đồng·âm trong Việt·ngữ và dấu nối trong tên họ

Tác·giả: Lê·Ngọc·Trụ

(Tạp·chí Văn số 25, Chuyên·mục Giải·đáp thắc·mắc bạn đọc, ngày 1 tháng 1 năm 1965)

* HỎI : (bạn Trương-Bạch-Mai, Long-thành.)
1.) Vấn-đề tiếng đồng-âm trong Việt-ngữ : « Va, Da, Gia » có thể là những tiếng đồng-âm không ? Tôi cho những cặp tiếng sau đây là đồng-âm có đúng không : ngan và ngang, tất và tấc, lòng và lồng? Hay tiếng đồng-âm chỉ có thể là những tiếng như hiên trong « hiên-ngang » và hiên trong « mái hiên ».
2.) Dấu nối trong tên họ. Chẳng hạn như tên tôi, theo ý-kiến của ông, nên viết theo một trong những lối sau đây : Trương-Bạch-Mai, Trương Bạch-Mai. Lối sau, riêng theo ý tôi, nó không có một liên-lạc gì giữa họ và tên. Và tôi cũng không đồng ý khi người ta cho rằng chỉ có dấu nối giữa những tiếng trong tên ghép hoặc chữ ghép, chẳng hạn : Nguyễn-Phúc Ánh, Trần thị Kim-Chi.

Nguyễn·Bạt·Tụy

Tác·giả: Nguyễn·Đình·Toàn

[...Các cuốn “ Phonologie Vietnamienne”, “ Les Voyelles Vietnamienne”, “NOA recherche languistique en Giaoland”vv.. . tất cả đều đuợc viết bằng tiếng Pháp, trình bày những biến chuyển về tư tưởng của tác giả qua hơn hai mươi năm suy tư về ngôn ngữ, trong mọi ngành ngữ âm, ngữ nghĩa, văn phạm, văn phong, và nhất là sự phát minh ra “thuyết độ tiếp xúc” [ theorie đu degré de contact ] mà tác gỉa tin rằng sẽ làm đảo lộn các thuyết ngôn ngữ trên thế giới và chứng tỏ giá trị bấp bênh của mọi công trình nghiên cưú trước đây. Ngoài ra ông Nguyễn Bạt Tụy còn viết một số tác phẩm bằng Anh ngữ, trong đó có cuốn “ New Principles Of Phonology” [ Những nguyên lý mơí của âm học ] nhằm chống lại Trubezcoy, tác giả cuốn sách nổi tiếng tựa đề là “ Principe de Phonologie”.....]

Tản·mạn về đề·án chữ Việt không dấu

Tác·giả: Nguyễn·Ninh

(Bài viết trên Diễn đàn Hội Tin học Việt Nam - Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 2007)
Trước đây một năm, cũng vào một ngày đầu Xuân (17/02/2006), đề án "Chữ Việt mới" đã được Cục Bản Quyền tác giả cấp giấy chứng nhận bản quyền, đánh dấu 10 năm nghiên cứu về đề tài này.
Từ ngày ấy đến nay, tôi đã gửi đề án này dến hơn 200 cơ quan thông tấn, báo chí, điện toán (tin học), các trường đại học . . . đồng thời đăng tải trên mạng Diễn đàn Tin học và Đời sống của Hội Tin Học Việt Nam, và đã nhận được nhiều ý kiến khen, chê, thắc mắc.
Tôi thấy đã đến lúc nên tổng kết và trả lời những câu hỏi của quý độc giả trong và ngoài nước.

Phương-châm trong việc tạo từ mới

Tác-giả: Đặng-Hải-Nguyên



  1. Tính dân tộc:

    1.1 Thuần Việt :


    Sử dụng những từ thuần Việt.


    Ví dụ:
    gourmet powder: bột ngọt hay vị tinh.
    stomach: dạ dày hay bao tử.


    1.2 Nho Việt:


    Những từ Nho Việt do người Việt tạo ra, là đặc trưng riêng của Việt Nam.


    Ví dụ:
    stomach: bao tử.  Nếu dịch sát nghĩa từ "bao tử", bao là cái bao, tử là chết; từ "bao tử" không có nghĩa gì trong tiếng Trung Hoa. Theo ngữ pháp Trung Hoa, họ nói ngược lại là "tử bao" dịch sát có nghĩa là "bao chết". Hơn nữ, từ "bao tử" còn mang một ý nghĩa triết lý trong đó.


    Từ "vị tinh" ghi theo Hán tự (Chinese character) hoặc Nho tự là "". Nếu phiên âm theo giọng đọc của tiếng Quảng Đông là "mì chính". Nếu đọc "" theo âm Việt và ghi theo mẫu tự La-tinh thì từ Nho Việt là "vị tinh". Từ "vị tinh" thể hiện rõ nghĩa của từ là tinh chất của vị.


    Please make yourself as home: xin đừng khách sáo (khách khí – 客氣), xin tự nhiên như ở nhà bạn . Từ "sáo" lột tả được nhiều ý nghĩa hơn là từ "khí" (). Hơn nữa, ta có những từ gần với nó như sáo ngữ, nói như sáo.


  2. Tính khoa học

Nguyên-tắc tạo từ mới

Tác-giả: Đặng-Hải-Nguyên


Hán tự hoặc Nho tự được tạo ra theo sáu cách gọi là phép lục thư (六書).


  1. Tượng Hình (象形): căn cứ trên hình tượng của sự vật. Ví dụ:
    Ghép một gạch ngang (
    ), một sổ thẳng (), hai nét phẩy xuống ở hai bên, tượng trưng một cây có cành ngang, rễ dọc, để ghi chữ Mộc "", có nghĩa là "cây".

  2. Chỉ Sự (指事) hay Biểu Ý (表意) (hay tượng sự, xử sự): Trông mà biết được, xét mà rõ ý. Ví dụ:
    Chữ Bản (
    ), do ghép chữ Mộc () và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa "gốc rễ".
    Lấy nét ngang (
    ) làm mốc, phần (–) đứng ở trên mốc là () thượng, phần đứng ở dưới mốc là () hạ.

  3. Hội Ý (會意) (hay tượng ý): Mỗi chữ có nhiều phần, mỗi phần có một nghĩa, hợp ý của hai chữ ấy lại để tạo ra một chữ mới với ý mới. Ví dụ:
    Chữ Lâm (
    ) là rừng , do ghép hai chữ Mộc () tạo thành, rừng do nhiều cây hợp thành.
    Chữ Cổ (
    ) là xưa, ngụ ý điều gì mà mười ( Thập) miệng ( Khẩu) đã nói đến là cũ, xưa rồi.

  4. Hình Thanh (形聲), (hay tượng thanh, hài thanh): chiếm 80% toàn bộ chữ Hán. Mượn phần âm () của một chữ có sẵn rồi ghép vào một bộ (phần hình ) chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới. Ví dụ:
    Chữ Vị (
    ) trong "khẩu vị" do ghép bộ Khẩu () chỉ việc ăn hoặc nói, và chữ Vị () là "chưa" trong "chưa đến – vị lai" để chỉ cách phát âm.
    Chữ Giang
    là sông, gồm bộ Thuỷ () để chỉ vật gì có liên quan đến nước (ý nghĩa) và chữ công () chỉ cách phát âm của chữ ", Giang". Ghi chú: theo cách tạo từ này, lẽ ra phải đọc là "Giông" chứ không phải "Giang" vì nó lấy âm "ông" trong chữ "công, ".  Nếu thay âm "Gi" Việt cổ (?) hay Hán cổ (?) bằng âm "S" Việt hiện nay, chữ ta đọc là "sông", nghĩa là sông (river) là hợp tình hợp lý nhất?! Trong 80% toàn bộ chữ Hán được tạo theo phương thức Hình Thanh, có bao nhiêu chữ thuộc loại này? Phần này để các bạn cũng như các nhà nghiên cứu suy nghĩ thêm về tính chính danh của cách gọi "từ Nho Việt" thay cho "từ Hán Việt".

  5. Chuyển Chú (轉注): Dùng một chữ có sẵn, thay đổi hình dạng đi đôi chút, để đặt ra một chữ khác có nghĩa tương tự. Ví dụ:
    Ghép bộ Thảo (cây cỏ) vào chữ Lạc (
    , vui vẻ) thành chữ Dược () là thuốc
    Chữ Lão (
    ) là già, thay đổi hình dạng đôi chút ta có Khảo () nghĩa là "sống lâu".

  6. Giả Tá (假借): Mượn âm của một chữ có sẵn:
    a. Biến đổi dấu giọng (thanh) của chữ ấy để tạo thành một chữ mới với nghĩa khác.
    Ví dụ:
    Trường: dài, Trưởng: lớn.
    b. Giữ nguyên thanh âm của một chữ nào đó, rồi gán thêm cho nó một nghĩa mới.
    Ví dụ:
    Vạn, vốn có nghĩa là con bò cạp, nhưng lại dùng thêm nghĩa mới là mười ngàn.


Nhờ chữ quốc ngữ viết bằng mẫu tự La tinh, chúng ta không bị đóng khung trong phép "lục thư" trong việc tạo từ mới.

Sunday, January 23, 2011

Nguyễn-Ninh - Bộ-gõ Chữ Việt mới tạm-thời

(Xem nội-dung đề-án Chữ Việt mới dùng cho Công-nghệ thông-tin của tác-giả Nguyễn-Ninh ở đây, bản rút-gọn đề-án xem ở đây)

Chào quý vị và các bạn,
Đây chưa phải là phần mềm được lập trình một cách hoàn chỉnh mang tên tác giả nào cả, mà chỉ là một số thủ thuật sử dụng những công cụ tin học hiện nay, được tập hợp lại trong cái gọi là “ Bộ gõ chữ Việt mới tạm thời “ mang tính trao đổi nội bộ, nhằm hỗ trợ những ai thích làm quen với chữ này dùng thử, cũng là để tiêu khiển cho vui…

Do tính chất tạm thời, bộ gõ này chưa thực hiện việc viết liền từ kép mà vẫn gõ rời từng từ đơn âm. Nhìn tổng thể bộ gõ này có nhanh hơn nhưng chưa nhanh nhiều lắm so với các bộ gõ khác. Bạn nào có khả năng lập trình cải thiện được bộ gõ này tốt hơn xin công bố lên mạng để mọi người cùng thưởng thức.

Nguyễn-Ninh – Nội-dung rút-gọn của chữ Việt mới

(Xem bản đầy-đủ của đề-án "Chữ Việt mới" của tác-giả Nguyễn-Ninh tại đây, bộ-gõ Chữ việt mới tạm-thời xem ở đây)

I. CẤU TẠO CỦA MỘT TỪ ĐƠN ÂM TIẾT:


Từ (đơn âm tiết) = Phụ âm đầu + Vần + Thanh.

II. PHỤ ÂM ĐẦU:
Đa số phụ âm đầu vẫn như cũ, chỉ có 9 sửa đổi: Chỉ dùng chữ k để biểu thị âm "cờ" và "quờ" thay cho c, k, qu; dùng c thay cho ch; d thay cho đ; f thay cho ph; q thay cho kh; j thay gi; z thay d; bỏ h trong gh, ngh.

III. VẦN :
Cách xây dựng các vần của Chữ Viêt Mới rất đơn giản: Mỗi vần được cấu tạo chỉ bằng một con chữ (nguyên âm) hoặc hai con chữ ghép lại ( môt nguyên âm và một phụ âm) mà vẫn xóa bỏ được hoàn toàn các dấu phụ. Thí dụ: og (ong); ok (ôc); yl (uyên); yj (ương)…
Mặt khác, vần cũng rất dễ nhớ vì chỉ cần học một số nhỏ vần từ đó suy ra nhiều vần khác nhờ hai phép biến đổi sau:

Nguyễn-Ninh – Chữ Việt mới dùng cho công-nghệ thông-tin

Tên tác-phẩm: Chữ Việt mới


Nội-dung: Đề-xuất phương-án cải-tiến chữ Việt hiện-nay thành chữ Việt không dấu


Tác-giả: Nguyễn-Ninh


Địa-chỉ: Hà-Nội, quận Đống-Đa, phố Chợ Khâm-Thiên, phường Trung-Phụng, ngõ 143, ngách 62,  số nhà 17.


Điện-thoại: 844 - 518 6134


(Giấy chứng nhận bản quyền tác giả số 266/2006/QTG do Cục Bản quyền Tác giả - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 17 tháng 02 năm 2006)


Saturday, January 22, 2011

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ

Tác·giả: Hoàng·Tuệ
(In trong tạp·chí «Ngôn ngữ", số 3 và 4 (năm 1979), trang 137–151)

Qua các hội·nghị chuẩn·mực·hoá chính·tả và thuật·ngữ (1978–1979), có thể rút ra một·số vấn·đề chung, như các vấn·đề trình·bày dưới đây.
    1. Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới
    2. Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ
    3. Nhu cầu mượn từ
    4. Đồng hoá từ mượn
    5. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
    6. Nhất quán và không nhất quán
Nguồn: http://ngonngu.net/index.php?p=166

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ và văn·hoá mới, con·người mới

Tác·giả: Hoàng·Tuệ
(In trong tạp·chí «Ngôn ngữ", số 3 và 4 (năm 1979), trang 137–151)

Đây là vấn đề về quan điểm tư tưởng và quan điểm chính sách trong công tác chuẩn mực hoá ngôn ngữ nói chung. Thiết tưởng vấn đề này đáng được suy nghĩ nhiều nhất.

Trước tiên, cần chú ý tới một sự tổng kết của lịch sử: kẻ bành trướng tràn tới đâu là đem theo ngôn ngữ của chúng tới đó làm công cụ thống trị; và kẻ bị thống trị đấu tranh bảo vệ bảnn ngữ là góp phần rất quan trọng vào cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước. Tiếng Việt là một chứng minh cho thực tế lịch sử đó và cho tinh thần đấu tranh của dân tộc ta. Cho nên, hiện nay cũng như trong tương lai, "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" là một công tác luôn luôn có ý nghĩa chính trị sâu sắc, vì bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc là nhiệm vụ lâu dài của nhân dân ta.

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Tiếp·nhận từ của ngoại·ngữ trong quá·trình tiếp·xúc ngôn·ngữ

Tác·giả: Hoàng·Tuệ

Chất liệu ngôn ngữ bao gồm chất liệu hình thức và chất liệu nội dung.
Chất liệu nội dung là những sự vật, những khái niệm, những tư tưởng, tình cảm… Những cái đó, làm nên văn hoá vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc, không phải và không thể là do mỗi dân tộc tạo ra tất cả. Có những cái, có cả những bộ phận, do tiếp nhận tự ngoài vào mà có, và cùng với sự tiếp nhận chất liệu nội dung là sự tiếp nhận chất liệu hình thức. Đó là lí do chính vì sao trong một ngôn ngữ có thể có những từ vốn của ngoại ngữ. Yêu cầu chuẩn mực hoá thường được đặt ra chủ yếu đối với những từ này. Vì thế, thiết tưởng cần phải tìm hiểu hiện tượng tiếp nhận từ của ngoại ngữ, phân loại những trường hợp khác nhau, mới có thể xác định giới hạn đối với yêu cầu nói trên.

Friday, January 21, 2011

Quy-tắc chính-tả tiếng Việt và phiên-chuyển tiếng nước ngoài

Tác-giả: Chủ-tịch Hội-đồng Quốc-gia Chỉ-đạo Biên-soạn Từ-điển-bách-khoa Việt-Nam


I. Chính tả tiếng Việt
Hiện nay, trong các trường học và trong sách giáo khoa phổ thông đã thống nhất cách viết tiếng Việt theo chính tả truyền thống. Tuy nhiên, trong sách báo và giữa các nhà xuất bản vẫn chưa có sự thống nhất, nhất là việc phiên chuyển tiếng nước ngoài và chưa có văn bản quy định của Nhà nước.
Trong lúc chờ đợi quy định thống nhất của Nhà nước, được phép của thủ tướng chính phủ (Công văn số 4: 1635/VPCP-KG ngày 27 tháng 4 năm 2000) và thực hiện nghị quyết của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam trong Hội nghị toàn thể ngày 3-4.5.2000, sau khi lấy ý kiến của các uỷ viên Hội đồng và được Ban thường trực thông qua, chủ tịch Hội đồng ban hành quy tắc chính tả và phiên chuyển tiếng nước ngoài để áp dụng thống nhất trong bộ Từ điển bách khoa Việt Nam và các công trình khoa học của Hội đồng.

Về bản dự thảo Quy định cách viết, cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lí nhà nước

Tác-giả: Nguyễn-Văn-Khang


Sáng ngày 18 tháng 5 năm 2006, tại trụ sở Viện Ngôn ngữ học 36 Hàng Chuối - Hà Nội, Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - PGS.TS Trần Đức Cường - đã chủ trì buổi họp báo giới thiệu bản Dự thảo Quy định cách viết cách đọc tên riêng nước ngoài trong các văn bản quản lí Nhà nước và việc công bố Dự thảo này trên báo chí để tranh thủ ý kiến góp ý. Tới dự có đại diện của Bộ Văn hoá và Thông tin, Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, các báo Nhân Dân, Lao Động, Tiền Phong, Người đại biểu nhân dân,... Để giúp cho mọi người có thể tham gia góp ý kiến cho bản Dự thảo, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống xin giới thiệu bài viết của GS.TS Nguyễn Văn Khang về nội dung có liên quan đến bản Dự thảo này.

Quy-ước chính-tả tạm-thời trong công-nghệ thông-tin

Đối với CNTT, việc bảo đảm một cách viết thống nhất là rất quan trọng. Trong tiếng Việt, đã nhiều lần chúng ta phải giải quyết các vấn đề nảy sinh khi thiếu sự thống nhất:




  • Hơn 50 bảng mã tiếng Việt khác nhau, đến mức Đại học Bách Khoa TP.HCM viết một công cụ để sinh phông chữ theo bất kì bảng mã nào. Một sự lãng phí vô ích, thay vì 1 bộ mã, chúng ta dùng đến 50. Cũng may cuối cùng có Unicode.

  • Dấu tiếng Việt. Lúc trước chúng ta dùng tiếng Việt không dấu, sau đó là VIQR, VIQR* và bây giờ là tiếng Việt có dấu đầy đủ, với bảng 134 kí tự có dấu.


Hiện tại vẫn có nhiều điểm chưa thống nhất trong chính tả tiếng Việt. Nguyên do là hoặc đã có quy tắc chung nhưng người viết không nắm, hoặc có nhiều quy tắc khác nhau và mỗi người chọn cho mình một cách riêng. Mục đích của bài viết này nhằm giải quyết cả hai vấn đề này:


  • Nếu có quy tắc chung, sẽ nói rõ quy tắc này.

  • Nếu có nhiều quy tắc cùng tồn tại, sẽ phân tích sơ lược và chọn ra một quy ước riêng cho chúng ta.

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Ngôn·ngữ nói và ngôn·ngữ viết

Tác·giả: Hoàng·Tuệ
Vấn đề này rất rộng, nếu bàn tới các khác nhau giữa nói và viết ở tất cả các mặt; nên ở đây chỉ trình bày những điều có liên quan tới cải tiến chữ viết và chuẩn mực hoá chính tả.

Ngày xưa, trong truyền thống ngữ văn học thì văn bản là đối tượng nghiên cứu, và lời nói, tức là ngôn ngữ nói, không thể coi là có giá trị để nghiên cứu như ngôn ngữ viết được. Quan niệm ấy có lí do: ngôn ngữ viết tức là ngôn ngữ đã thành văn chương, thành những tác phẩm biểu hiện cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa đã có giá trị định hình của một ngôn ngữ; ngôn ngữ thì biến dộng, cho nên rất dễ trở thành "pha tạp", "hư hỏng". Vì thế, trước đây, sự chuẩn mực hoá cũng dựa trên ngôn ngữ viết để quy định cái đúng, cái sai. Như vậy, mặt chữ có uy thế hơn hẳn mặt âm. Vả lại, trong đời sống trước đây thì ở đâu sách cũng là công cụ chủ yếu của sự truyền đạt tư tưởng, văn hoá. Vai trò quan trọng như vậy của sách cũng là vai trò quan trọng của mặt chữ.

Sự chuyển biến lớn trong quan niệm về giá trị của mặt chữ đã xảy ra với ngôn ngữ học hiện đại: không, ngôn ngữ nói mới là cái cơ bản, và mặt chữ chỉ để biểu hiện mặt âm mà thôi. Mặt chữ còn nguy hiểm ở chỗ nó gây ra nhận thức sai lạc về ngôn ngữ. Quả nhiên, trong phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt về mặt ngữ âm lịch sử, nếu lấy mặt chữ làm căn cứ thì sai lệch là khó tránh, và cũng khó xử lí, theo yêu cầu chuẩn mực hoá, đối với những biến đổi ngữ âm đang diễn ra.

Thursday, January 20, 2011

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Nhu·cầu mượn từ

Tác·giả: Hoàng·Tuệ
Hành động mượn từ có thể chẳng có lí do gì chính đáng, chẳng đáp ứng một nhu cầu thực sự nào về ngôn ngữ, mà nhiều khi, chỉ là biểu hiện của ý thức không tôn trọng, không nghiêm túc đối với ngôn ngữ của dân tộc. Ở đâu cũng có sự tình này. Ở ta, rõ ràng là có khi đã như như thế. Thực ra, cái cớ lúc đầu là chưa có sẵn từ trong bản ngữ để đáp ứng ngay một nội dung mới, còn có tính chất ngoại. Thí dụ, chừng nửa thế kỉ trước, cái xe đạp là một trường hợp như thế và có người đã gọi nó là tự hành xa! Thí dụ này đáng chú ý, vì trước đây có lắm người thông tiếng Hán hễ gặp một nội dung mới từ phương Tây đến (đặc biệt là khái niệm trừu tượng về văn hoá, chính trị… nhưng cả khi là sự vật cụ thể cũng thế) thì một mặt, cự tuyệt chất liệu Pháp; mặt khác cũng không chịu tìm chất liệu Việt mà sẵn sàng dùng ngay chất liệu Hán, tức Hán Việt. Sự tình này, như đã nói, có nguyên nhân lịch sử trong quá trình tiếp xúc quá dài giữa tiếng Việt và "chữ Hán", tức là dạng ngôn ngữ viết của tiếng Hán được tiếp tục dùng ở Việt Nam, từ khi nước ta thoát khỏi ách thống trị của Trung Hoa. Sự tình ấy đã ảnh hưởng khá rõ đến trạng thái chung của từ vựng tiếng Việt. Mặc dù thế, nếu dùng lạm từ Hán Việt, tức là mượn gốc Hán là vẫn gây ra phản ứng chống đối của người Việt Nam. Tự hành xa đã tự lúc đầu tỏ ra là một sự kém cỏi học giả, không chấp nhận được và đã nhanh chóng bị thay thế bằng xe đạp. Từ mượn gốc Pháp cũng có thể gây ra phản ứng đó. Tủ lạnh đã được hoan nghênh để thay thế fri-gi-de. Ti vi chắc chắn rồi sẽ chịu số phận như fri-gi-detự hành xa thôi.

Wednesday, January 19, 2011

Chuẩn·hóa ngôn·ngữ Việt

Tác·giả: Aiviet

17/06/2010 9:30 SA

Ngày xưa, tôi có một ông thầy người Hung rất mê học tiếng Việt. Ông ấy cũng là một nhà ngôn ngữ. Tuy nhiên, ông học lâu, nhưng nói vẫn không hay lắm. Có lần ông ta nói "Ngữ pháp chẳng qua là gậy của người mù, để dò dẫm đường đi" (Cái này thì đúng, người đã biết tiếng coi như người sáng thì cần gì ngữ pháp). "Tiếng Việt không có ngữ pháp nên khó học". Hồi đó tôi trố mắt và rất ức "Làm gì tiếng Việt lại không có ngữ pháp". Bây giờ ngẫm nghĩ quả nhiên thế thật.

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Nhất·quán và không nhất·quán

Tác·giả: Hoàng·Tuệ
Trong sự chuẩn mực hoá ở các mặt của ngôn ngữ, thường có xu hướng muốn đạt tới, thậm chí đòi hỏi phải đạt tới cái nhất quán. Thí dụ, trong tiếng Việt, thì khi đã nói "cái bàn" được là nói cái ghế, cái chăn, cái nhà… cũng được; như thế là nhất quán. Nhưng sự thực, không thể không thấy là trong tiếng Việt, vẫn có những hiện tượng về cái không nhất quán, thí dụ: trong sự đối lập có tàibất tài, các nghĩa khẳng định và phủ định được phân biệt rõ, nhưng ở thình lìnhbất thình lình thì nghĩa lại như nhau. Có thể dẫn một ví dụ khác: đổi Ý thành ItaliaÚc thành Ốt-xtrây-li-a… là nhất quán, nhưng chưa đổi Pháp thành Phơ-răng-xơ là không nhất quán. Trong tiếng Pháp, cũng có thể thấy rõ các nhất quán, ví dụ: la maison thì les maisons, le chien thì les chiens…; nhưng cũng có cái không nhất quán, thí dụ: nous lisons thì vous lisez, nhưng nous disons thì lại vous diles.

Một·số vấn·đề về chuẩn·mực·hoá ngôn·ngữ: Đồng·hoá từ·mượn

Tác-giả: Hoàng-Tuệ
Một từ mượn, nếu không bị thay thế, thì còn trải qua một quá trình chịu những tác động của người bản ngữ mới có vị trí vững vàng. Quá trình ấy là sự đồng hoá từ mượn. Nói chung, nó biểu thị mặt tích cực, sáng tạo, của người bản ngữ đối với từ mượn để nhằm tạo nên tính chất thuần nhất trong bản ngữ. Cho nên, trong sự chuẩn mực hoá ngôn ngữ, đồng hoá từ mượn là một yêu cầu rất được chú ý. Nếu ta nói đến sự Việt hoá từ mượn trong tiếng Việt thì chẳng hạn, người Pháp cũng nói đến sự Pháp hoá những từ mượn trong tiếng Pháp…

Tóm·tắt việc xác·định từ·loại tiếng Việt

[Hiện nay có hai trường·phái công·nhận/phủ·nhận tồn·tại cách phân·loại từ·vựng trong tiếng Việt - Theo Cao·Danh·Khải, "từ (trong ngôn·ngữ đơn·lập) không biến·đổi hình·thái do·đó không·thể phân·chia từ·loại một cách chính·xác"  - Nguyễn·Tiến·Hải]

A, Đặc·điểm ngữ·pháp 

- Đặc điểm hình thái học
- Thái độ ngữ pháp:
+ khả năng kết hợp
+ chức vụ ngữ pháp


B, Tiêu chí phân định từ loại

1- Ý nghĩa khái quát của từ: sự vật, hành động, tính chất...

2- Khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu

3- Chức năng ngữ pháp (chức vự ngữ pháp, chức năng thành phần câu)

→ Sự phân định từ loại là sự phân chia vốn từ bằng bản chất ngữ pháp thông qua ý nghĩa khái quát và/ hoặc hoạt động ngữ pháp của từ trong câu.

→ Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu (Đinh Văn Đức. Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại).

Hỗn-nhập ngôn-ngữ - Một giải-pháp hiện-đại-hóa tiếng Việt theo quan-điểm Phạm-Quỳnh

Tác-giả: Đặng Hoàng Oanh


Giai đoạn đầu thế kỉ XX đánh dấu những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Các nhà văn học sử thường gọi đó là “giai đoạn giao thời”. Đây cũng là thời kì Việt Nam ở giữa “giao điểm của các nền văn minh” [4, tr.116]. Sự gặp gỡ giữa sức mạnh khoa học kĩ thuật phương Tây và minh triết thâm trầm phương Đông, cùng hai đối cực động – tĩnh đã phá vỡ hoàn toàn sự cân bằng vốn có của xã hội cũ đã tồn tại hàng ngàn năm. Điều đó đã tạo nên “trạng thái bất ổn về tinh thần có thực và khó sờ thấy được như khí quyển, một khí quyển đầy điện tích dông bão” [4, tr.340]. Phạm Quỳnh đã nhận ra tình trạng bất ổn ấy, và ông xem đó là những dấu hiệu khủng hoảng của văn hóa dân tộc trên con đường hòa nhập với phương Tây. Ông nhận thức một cách rõ ràng: nền văn hóa dân tộc đang cần một cuộc cải cách lớn. Trong hàng loạt những công việc phải tiến hành, có một việc hết sức cấp thiết: hiện đại hóa tiếng Việt. Điều này xuất phát từ mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa và ngôn ngữ. Phạm Quỳnh tâm niệm: “muốn có một nền văn hóa dân tộc thì phải tồn tại một ngôn ngữ dân tộc hoàn thiện xứng đáng là ngôn ngữ văn hóa” [4, tr.457].

Tuesday, January 18, 2011

Chữ·viết tiếng Việt - Đặc·điểm và một·vài vấn·đề

Tác·giả: Giáo·Hoàng·Phê

I. Đặc·điểm chữ·viết tiếng Việt

1. Tiếng Việt là một ngôn ngữ âm tiết tính. Trong tiếng Việt ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị **. Người bình thường sử dụng tiếng Việt chỉ có ý thức về âm tiết, gọi là tiếng, nói chung không có ý thức về âm vị. Và cũng chỉ có ý thức về hình vị, gọi là chữ (ví dụ, chữ quốc, chữ gia, chữ nước, chữ nhà), nói chung không có ý thức về từ. Phản ánh đặc điểm cơ bản nói trên của tiếng Việt, chính tả tiếng Việt đơn thuần là chính tả âm tiết. Nếu xét ở cấp độ âm vị thì có rất nhiều điều bất hợp lí, nhưng nếu xét ở cấp độ âm tiết thì nói chung có sự đối ứng chặt chẽ giữa ngữ âm và chữ viết, có quan hệ một đối một giữa âm tiết ngữ âm và âm tiết chữ viết, chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ. Đây chính là ưu điểm lớn nhất của chữ viết tiếng Việt.

Linh·hồn tiếng Việt

Tác·giả: Cao·Xuân·Hạo

(Báo Văn nghệ)


Tôi có một bạn đồng nghiệp người Tiệp Khắc, tên là Tvó Vasiljev, tuổi ngoại ngũ tuần, nổi tiếng giỏi ngoại ngữ, tiếng Việt anh nói giọng Hà Nội đặc đến nỗi ai cũng nói nếu không trông thấy đôi mắt xanh và mái tóc vàng của anh thì tưởng đâu anh là dân Tràng An chính cống. Một hôm cùng anh đi máy bay từ Tân Sơn Nhất ra Hà Nội, khi ngồi trong ga đợi giờ ra máy bay, tôi bày trò đố anh mấy câu tục ngữ xem thử anh hiểu tiếng Việt sâu đến mức nào. Thoạt tiên tôi đố anh câu Vàng gió đỏ mưa. Chỉ sau 5 phút anh hỏi lại: 
- Có phải cũng nói là Vàng thì gió, đỏ thì mưa không? 
Tôi nói phải, thì anh cho biết là nhiều thứ tiếng châu Âu cũng có những câu tương tự trong cái vốn tri thức gọi là "khí tượng học dân gian", cho nên anh đoán được nghĩa của câu tục ngữ Việt Nam một cách khá dễ dàng. Sau khi lên máy bay, tôi lại đem câu Chó treo, mèo đậy ra đố anh. Lần này anh nhắc đi nhẩm lại mấy lần rồi chìm sâu vào suy tưởng, suốt mấy tiếng đồng hồ bay không nói một câu nào, chỉ nhắc khẽ câu tục ngữ tôi vừa "ra" cho anh, cố phân tích, tìm hiểu nội dung ý nghĩa của nó.

Đặc·điểm của thuật·ngữ tiếng Việt

Tác·giả: PGS TS Hà·Quang·Năng
(Tạp·chí Từ·điển·học & Bách·khoa·thư, số 2 (11·2009) và số 3 (1·2010))

Hơn nửa thế·kỉ qua, kể từ sau Cách·mạng Tháng·Tám năm 1945, tiếng Việt đã có một vị·thế quan·trọng trong xã·hội Việt·Nam và trên trường quốc·tế. Tiếng Việt giữ địa·vị chính·thống, được sử·dụng làm ngôn·ngữ chung trong mọi hoạt·động của các dân·tộc trên lãnh·thổ Việt·Nam. Sự·nghiệp công·nghiệp·hoá, hiện·đại·hoá đất·nước, đặc·biệt là sự·phát·triển mạnh·mẽ của sản·xuất và khoa·học kĩ·thuật · công·nghệ, đòi·hỏi tiếng Việt cũng phải phát·triển nhanh·chóng, trước·hết là trong lĩnh·vực thuật·ngữ khoa·học. Trong lịch·sử hiện·đại nước·ta đã từng có bốn lần tiếng Việt đứng trước yêu·cầu phát·triển nhanh·chóng để thích·hợp với sự·chuyển·mình của xã·hội như vậy. Lần thứ nhất là đầu thế·kỉ XX. Trước sự·phát·triển nhanh·chóng về công·nghiệp, giao·thông, kinh·tế, pháp·luật… phục·vụ chính·sách khai·thác thuộc·địa của thực·dân Pháp, sự·phát·triển của các ngành khoa·học, sự·du·nhập văn·hoá Âu·châu, sự·đổi·mới trong nếp sinh·hoạt, nếp nghĩ của một bộ·phận dân·cư… tiếng Việt đã có sự·phát·triển rất mạnh về từ·vựng và cả một phần cú·pháp. Đặc·biệt, trong thời·kì này, vốn·liếng thuật·ngữ khoa·học ban·đầu của nước·ta đã được hình·thành, chữ Quốc·ngữ được truyền·bá rộng·rãi. Lần thứ hai là sau cuộc Cách·mạng Tháng·Tám năm 1945. Trước sự·chuyển·mình của đất·nước ta từ một nước nửa phong·kiến thuộc·địa sang một nước cộng·hoà dân·chủ độc·lập, với quan·hệ xã·hội kiểu mới, cách nghĩ mới, nếp sống mới của toàn·bộ dân·cư, với sự·tăng nhanh số người tham·gia đời·sống chính·trị · văn·hoá · xã·hội, tiếng Việt đã giữ vai·trò ngôn·ngữ quốc·gia với sự·mở·rộng chức·năng và sự·dân·chủ·hoá, chữ·viết trở·thành thứ văn·tự bắt·buộc phải học đối·với toàn·thể dân·cư. Lần thứ ba là những năm 60. Trước yêu·cầu của 3 cuộc·cách·mạng tư·tưởng văn·hoá, cách·mạng khoa·học kĩ·thuật, trước sự·phát·triển mạnh·mẽ của tất·cả các ngành khoa·học và giáo·dục, sự·phát·triển giao·lưu quốc·tế, tiếng Việt đã hoàn·thành quá·trình hiện·đại·hoá, dân·chủ·hoá và mở·rộng chức·năng được bắt·đầu từ hai giai·đoạn trước. Trong hoàn·cảnh đó, hệ·thống thuật·ngữ tiếng Việt đã có những bước phát·triển vượt·bậc. “Vào cuối thập·kỉ 60, đầu thập·kỉ 70, tổ thuật·ngữ thuộc Uỷ·ban Khoa·học kĩ·thuật Nhà·nước (…) đã tổ·chức biên·soạn một loạt các từ·điển đối·dịch thuật·ngữ cho hầu·hết các ngành khoa·học tự·nhiên, khoa·học kĩ·thuật và khoa·học xã·hội” [8, 20]. Đây là công·sức của rất nhiều nhà·khoa·học ở miền Bắc Việt·Nam lúc bấy·giờ.

Danh·sách từ gốc Pháp trong tiếng Việt

Người·soạn: Nguyễn·Tiến·Hải

Cập·nhật: 2012, tháng 10, ngày 14. Tổng số từ đã cập·nhật: 440
Đăng lần đầu tiên: 2011, tháng 01, ngày 18.


Từ đã Việt-hóa
Từ gốc trong tiếng Pháp


Nghĩa


Ghi-chú/ví-dụ

ắc-quiaccus, accumulateur ắc-quy hay pin sạc là loại pin có thể tái sử dụng nhiều lần bằng cách cắm điện và đặt vào bộ sạc để sạc lại.
a-ti-sô/ác-ti-sô (trà, lá)artichautloại cây lá gai lâu năm có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (quanh Địa Trung Hải) đã được người Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã trồng để lấy hoa làm rau ăn. Thân cây a-ti-sô có thể cao tới 2 mét, lá cây dài từ 50-80 cm. Người ta trồng a-ti-sô dùng lá bắc và đế hoa để ăn và làm thuốc. (theo vi.wikipedia.org)
a-lẹtalerte chú-ý, thông-báo
a-lôallô(Cảm từ)
tiếng gọi dùng trong điện thoại hoặc khi gọi loa để gợi sự chú ý
alô, ai gọi đấy ạ?
alô, alô, đồng bào chú ý
a-lô-xô/à-lát-xôÀ l'assauttiến lên, xông lên
a-ma-tơamateur(Khẩu ngữ) (phong cách, lối làm việc) phóng túng, tuỳ thích, không có sự chuyên tâmthông minh nhưng chủ quan, học hành rất a ma tơ;
tính a ma tơ
a-mi-ăngamiante (còn gọi là asbestos) là tên gọi chung của loại sợi khoáng silicat
a-mi-đanamygdaletổ chức bạch huyết tròn, to bằng đầu ngón tay, ở họng ngườisưng a-mi-đan
cắt a-mi-đan
am-peampèrekí hiệu A, là đơn vị đo cường độ dòng điện I trong hệ SI, lấy tên theo nhà Vật lí và Toán học người Pháp André Marie Ampère.
an-bomalbumtập (ảnh, nhạc), bộ- sưu- tập
ăng-kếtenquêteđiều-tra
ăng-lêanglais(thuộc về) người/nước Anh
ăng-tenantennethiết bị đầu ra của máy phát thanh hoặc ở đầu vào của máy thu sóng điện từ; làm nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu.
a-pác-thaiapartheidphân-biệt chủng-tộc
áp-pheaffaireviệc buôn-bán kiếm lợi lớn
áp-phíchaffichetờ-giấy lớn có chữ hoặc tranh-vẽ, dán ở nơi công-cộng để tuyên-truyền cổ-động hay để quảng-cáo
áp-xeabcèshiện-tượng nhiễm-trùng, mưng-mủ (có làm thành mủ) hay còn gọi là ổ-viêm.
át/ách/ách-xìas (cartes) quân Át trong bài Tây
a-xítacide bất kỳ chất nào mà khi hòa tan vào nước thì tạo được dung dịch có độ pH < 7. Nói chung axít là các phân tử hay ion có khả năng nhường prôton (ion H+) cho bazơ, hay nhận (các) cặp điện tử không chia từ bazơ. (theo wikipedia.org)
Bắcbactàu chở xe và hành khách qua sông (phà).
ba-đờ-xuypardessusáo khoác mùa-đông dài quá đầu-gối và có cổ áo giống cổ áo com-lê
ba-gác (xe ba-gác)/ba-gabagage hành-lí
ba-láp/bá-láppalabre nghĩa-gốc: Cuộc bàn cãi dài dòngthường được người Việt dùng với nghĩa "không đứng đắn, không có nghĩa lí gì"nói toàn chuyện ba-láp.
ba-lêballetnghệ-thuật múa cổ-điển trên sân-khấu thể-hiện một chủ-đề nhất-định, có nhạc-đệm
ban-côngbalcon  phần sân gác nhô ra ngoài nhà (ở tầng 2 trở lên), xung quanh có lan can, có cửa thông vào phòngra ban công hóng mát
băng (băng-đảng, băng-chuyền, băng cát-xét)bande
băng (ghế-băng)bancghế dài
băng (y tế)pansement băng bó (vết thương)
băng/ruy-băngruban băng, dải, huy-hiêu-băng đeo ở lỗ khuy ve áo trái
băng-đôbandeaudải băng bịt mắt hoặc bịt trán
băng-rônbanderolebăng khẩu-hiệu
bánhpain món ăn chín có hình khối nhất định, chế biến bằng bột (mì) hoặc gạo, thường có thêm chất ngọt, mặn, béo
bành-tô (áo bành-tô)paletot • áo khoác ngoài kiểu Âu, dài, may bằng các loại vải dày hoặc len, dạ, mặt trong có lớp lót, thường để mặc cho ấmtừ-đồng-nghĩa: măng-tô
ba-rêbarrer cái chắnBarrer la route
chắn đường
ba-rembarème đáp án có kèm theo điểm cụ thể của từng phần, dùng làm căn cứ để chấm thichấm theo đúng barem
ba-tê/pa-têpâtémón ăn làm bằng thịt hoặc gan ướp với đường, rượu rồi nghiền nhỏ, bao mỡ lá và hấp chín
ba-toongbâton cây gậy
ba-zanbasalte
ba-zơbasse
bẹc-giê (chó)berger (chien de berger)
ben (xe-ben)
bê-tôngbéton xi măng trộn với cát và sỏi đá và nước dùng đúc nền nhà, cột nhà, tường nhà, hay nền nhà, đường xe vào ga-ra. Bê tông cốt sắt : bê tông bên trong có thêm dây sắt cho chắc chắn hơn.
bi (bút bi, viên bi)billeviên đạn tròn, chơi bắn bi là dùng ngón tay bún viên đạn tròn cho trúng một viên khác
biabière
bích-quybiscuit
bi-dabillard banh tròn, cứng, lớn cỡ hột vịt, chơi trên bàn bi da; bàn nầy bọc nỉ, có chận bốn bên để trái bi da khỏi rớt ra ngoài; khi chơi, dùng một cây gậy gọi là cây cơ để đẩy trái bi da đi tới.
bi-dăng-tinbrillantine (?)
bi-đôngbidonbình đựng nước
bíp-tết/bít-tếtbifsteck
bi-vebille de verre
beurre
bo (gấu quần, gấu áo)border
bo/boa (tiền boa)pourboire
bô-ling
bờ-lu/blu (áo bờ-lu)blouse
bờ-lu-dông/bu-dông blousonáo bờ-lu-dông
bombombetrái bom (vũ khí)
bombombarderném bom, thả bom
bơm (cái-bơm)pompe
bơm (động-từ)pomperbơm nước
bôm/bompommequả táo Tây
bom-bibombe à billes
boongpont
boong-kebunkertừ này của Pháp mượn Đức (có nguồn nói Đức mượn lại của Anh) để chỉ hầm ngầm dưới mặt đất do Đức xây kiên cố thời Thế chiến II)
bóp (ví)porte-monnaie (?)
bóp/bótporte, porter: mang, đựng
bóp-ba-gaporte bagage
bót/bốtposte(đồn cảnh-sát, trạm gác)
bốt (giầy dép)bottes
bù-ẹtbrouette
bu-gi/bu-ri/bu-dibougie vật dụng nẹt lửa để làm xăng cháy và làm xe chạy; còn có nghĩa là cây nến
bu-lông/bù-lon/bù-loongboulon
bụp (ăn)bouffe
búp-bêpoupée
búp-phêbuffet
bu-ribougie
buýtbus
ca (ca cấp cứu, ca tử vong, ca bệnh)castrường-hợp/vụ hay khi nói về phiên giờ làm-việc;
ca (xe-ca)car
ca-bincabine
cạccarte
cạc vi-zítcarte de visitedanh-thiếp
ca-caocacaoloại cây có hạt cho bột làm sô cô la.
các-tông (thùng )carton
cà-mèn/ gàu-mên/ga-mengamellehộp đựng khẩu phần ăn cá nhân
cam-nhôngcamion
cam-nhông-nếtcamionnettexe-tải-con
can (giấy-can)papier calquegiấy để sao chép, đồ lại
căng-tincantine
ca-nôcanotthuyền nhẹ ko có boong
cao-sucaoutchouc
cápcâble
cà-phêcafé
ca-pôcapot (d'une voiture)
cà-rácarat
cà-remcrème
cà-ricari
ca-rôcarreauin hình ô-vuông, thường nói về vải- vóc
cà-rốtcarotte
ca-ta-lôcatalogue
cát-két (mũ cát-két)casquette
cát-xêcassé
cát-xétcassette
cà-vạtcravate
ca-vecavalièreCa ve (cavalier: nam kỵ sĩ; cavalière: nữ kỵ sĩ, hay vũ nữ): nhưng riêng từ “ca ve” dân Việt chỉ dùng để chỉ các cô gái nhảy (đầm) chuyên nghiệp (vũ nữ) mà thôi.
cà-vẹtcarte verte (permis de conduire)thẻ xanh hay giấy chủ quyền xe hơi thời xưa (trước 1960).
cơ (chất cơ trong bài Tây)coeur (cartes)trái tim, hình trái tim.
cò/cẩm (ông cò)commissiarre de police ông cảnh sát trưởng, cơ quan cảnh sát.
cô-bancobalte
cờ-lêclé*chìa-khóa*trong âm-nhạc: clef de sol = khóa sol*trong cơ-khí:clef à molette = cờ lê mỏ lết (# clef à bougie, clef plate, clef polygonale,...)
cờ-lê mỏ-lếtcle' molette, clef à molettedụng cụ dùng để tháo, mở, vặn xoắn các ốc vít
cò-măngcommande đặt mua; điều-khiển
com-lêcomplet (veston)
cồm-mít-xôngcommission tiền-cò, tiền-hoa-hồng
com-pacompas dụng-cụ dùng để vẽ đường-tròn
côncoltsúng côn
công-ten-nơconteneur
công-tơcompteurmáy đo như công tơ nước, điện.
coọc-necornegóc như phạt cọt ne, đá banh cọt ne.
coóc-sêcorset
cópcopierbắt chước chép theo hay làm theo
cốp (cốp-xe)coffre
cờ-rem (cây cờ-rem)crème
cô-tôngcoton
cô-veharicot vertđậu cô-ve
couptiền-danh-từ/mạo-từ của "đấm" hay "điện-thoại"coup de choc: cú sốc
cua (cua gái)faure la cour/ courtiser
cua (cúp cua)cours (khoá học, lớp học)
cua (hớt đầu cua)court (ngắn)
cua-rơcoureur
cùi-dìacuiller, cuillèrethìa, muôi
cu-licooliephu làm việc nặng như khuân vác
cuốccourselàm một cuốc xe ôm, cuốc leo núi
cúpcoupe1. cắt, chặt; cúp điện, cúp nước, cúp khẩu phần.2. vật giống cái ly, có chân, thường bằng kim loại để làm giải thưởng, như cúp bóng tròn, cúp quần vợt thế giới; cúp còn là giải thưởng như đoạt cúp quần vợt.
đầmdamequý bà
đăng-tendentelle đăng-ten, ren trên vải vóc…
đăng-xêdancer
đátdatethời-hạn sử-dụnghết đát
da-uayaourt/ yoghurt
đề (đề xe máy)démarreur
đề-candécal (décalcomanie)
dép lê?slepper
đề-padépart
đi ca-bi-nê?đi toilet
đi-ê-zendiesel
din (quần din)jean
đíp-lômdiplôme
đít-cuadiscoursbài nói, diễn văn, luận văn
đi-văngdivan
đốc-tờdocteur tiến sĩ, bác sĩ.
đơ-dèm-cùi-bắpdeuxième classe, soldat de
đờ-măndemande
đô-mi-nôdomino
Đông-ki-sốtDon Quichotte
đó-xiêDossier
dúpjupe
đúp-bồdouble
ê-cuécrouđai ốc
ê-keéquerre
ê-kípequipe một toán thợ hay một nhóm người.
em-bờ-ra-daEmbrayage
ép-phê /phêeffethiệu ứng
ét (xì) tăngattends!
ga (khí ga, bình ga)gaz
ga (nhà ga)gare
un gars
gác (canh gác, phiên gác, gác cổng)garde,garder
gạc-đờ-cogarde corps Vệ sĩ, cận vệ
gác-ba-gagarde bargage
gác-dangardienngười-canh-giữ
gác-đờ-bugarde boue cái chắn bùn (xe- đạp)
gác-đờ-cogarde du corpscận vệ
gác-đờ-xen/gác-đờ-xên/gác-đờ-sêngarde chaîne cái chắn xích (xe-đạp)
gạc-măng-rêgarde-manger
gác-măng-rê/gác-đờ-măng-dêgarde à manger Tủ đựng thức-ăn
ga-lănggalant
gam (khối-lượng)gramme
gam (màu)gamme
găng (găng-tay)gant
ga-ragaragechỗ sửa xe
ga-tôgâteaubánh ngọt
ghẻ-lởgaleux
ghi (màu ghi)gris
ghi-đôngguidonTay lái, ghi đông xe đạp
ghi-lê/gi-lê (áo ghi-lê)gilet
ghi-sêguichetquầy
ghi-taguitare
giăm-bôngjambon
gioăngjoint
gômgomme cái-tẩy
gôngaule
gu (hợp gu)goûtsở-thích, khiếu ăn mặc,  Vị giác, vị, mùi, hơi
hai-phai?
hoóc-mônhormone
họt-đơhors d'oeuvre
i-nóc/in-nóc-xi-đápInoxydable Kim loại không rỉ sét
juýpjupeváy ngắn
ka-kikaki Màu ka-ki, vải ka-ki
ke (bến tàu, bến cảng)quai
kiquille
la-cót (trứng-gà la-cót)oeufs à la coque
la-dela bíère bia rượu
lam (xe-lam)lambreta
lay-ơn/lai-ơnGlaïeul hoa Lay-ơn tv.
lăng-xêlancée, lancer phóng ra; giúp người nào nổi danh; đưa ra một điều gì mới như lăn xê kiểu áo quần mới.
lanh (vải)lin
la-va-bôlavabo
lê-dương (lính)légionnaire, légion étrangère
lê-ki-mapouteria lucumaquả-trứng-gà
len (áo)laine
líp (cú líp)lift (tennis)
líp (líp xe-đạp)roue librecái bánh răng quay tự do
lítlitre đơn-vị đo dung-tích
lotmột phần, như lô đất, lô hàng hóa.
lơ (xanh lơ)bleu
lô-canlocal
lô-ca-xônglocation
lô-cốtblockhauspháo đài, nơi xây cất chắc chắn để chắn đạn và có thể bắn từ đó.
lô-ga-rítlogarimthe
lô-giclogique
lốpenveloppevỏ bánh- xe làm bằng cao-su, phần bọc bên ngoài cái ruột bánh-xe (săm)có ý-kiến từ này lấy gốc từ nhãn hiệu Dunlop thời đó
lô-tôlotogiấy số, xổ số.
lò-xoressort
lúp (kính-lúp)loupe
mácmarquenhãn mác
ma-cà-bôngvagabondngười lang-thang, kẻ bụi-đời
máchmatch
mạch-lômatelot
ma-cômaquereau (từ thông-tục đồng-nghĩa với
entremetteur)
người đàn ông làm nghề dẫn gái cho người khác du hítừ này có-thể có nguồn-gốc từ tiếng Hà-Lan
ma-ki-dêmaquiller
ma-lanh (tính-từ)malin
măng-đamandat
măng-tô (áo măng-tô)manteauáo-khoác dài
măng-xông/măng-sông (đèn)manchon
ma-nơ-canhmannequin
mát-xamassage
may-ơmoyeumay-ơ của xe-đạp
may-ô/mai-ô (áo may-ô)maillotáo lót có 3 lổ
manh/me (trong bóng-đá)main chạm tay
mề-đaymédaille(huân chương, huy chương)
métmètređơn-vị đo chiều-dài
mi-cờ-rômicrophone
mi-nhonmignonnenhỏ-bé và xinh-xắn, dễ thương, đáng yêu
mít-tinhmeeting
moamoiTôi (đại danh từ), cái tôi (le moi)
mô-bai?
mô-bi-lếtmobylette
mô-binmobile
móc-chêmotiersúng móc-chê
mô-đi-phêmodifié, modifierthay đổi, chỉnh lý, sửa đổi
mỏ-lết molettemột loại kềm, chìa khóa để vặn óc, vặn bù lon
mo-rátmorassebản sắp chữ để in ngày xưa khi chưa có kỹ thuật
tân tiến; thầy cò là người sửa mô rát ở nhà in.
lỗi mo-rát, đọc mo-rát
mốtmodethời-trang
mô-típmotif
mô-tômoto; motocycle xe hai bánh có gắn máy
mô-tơmoteur cái máy nổ hoặc máy chạy bằng điện.
mùi-xoa/mu-soa (khăn mùi-xoa)mouchoir khăn tay bằng vải.
mù-tạc/mù-tạtmoutarde


nạo cô vắc?
nenègre
nê-ôngnéonđèn/khí nê-ông
nhép (chất nhép trong bài Tây)trèfle (cartes)
nhômaluminium
ni-lôngnylon một loại hóa chất có thể chế biến ra nhiều vật dụng (không thấm nước).
nœud Cái gút, cái nơ
Nô-enNoël
nuinouilles
ô-liuolive
oócorgue
ốp-la (trứng ốp-la)au plat
ốp-lết (trứng ốp-lết)omelette
ọt-dơhors jeu
ô-tôautomobile (voiture)
ô-tô-buýtautobus
ô-xioxygène
pan (pan xe)pannehỏng xe, dừng xe do gặp tai-nạn
păng-xê (hoa păng-xê)pensée
pa-nôpanneau
pa-ra-bônparabol
pa-tanhpatin
pa-tê-sô/ba-tê-sô (bánh pa-tê-sô)pâté chaud bánh nhân thịt nóng.
pạt-tiparty
pê-đanpedale
pê-đêpédé
pê-nan-tipenalty
pha (đèn pha)phare chiếu xa như đèn pha xe hơi.
pha (lệch pha)phase một giai đoạn như một pha gay cấn trong tuồng hát.
phác-ma-xipharmacie
phanhfreinthắng, làm cho xe chậm bớt hay ngừng lại; hãm phanh hay đạp thắng.
phêfeétiênphê thuốc, cảm-giác phê
phê (phê thuốc)fait
phéc-mơ-tuyafermeture
phíchfiche (prise)
phi-dêfriseruốn tóc
phinfiltrecái lọc, bộ lọc
phơfeubắn
phô (hát phô)faux
phốc-sétfourchette
pho-mátfromage
phoóc-ba-ga?ghế sau của xe-đạp dùng để chở người hoặc hành-lí
phoóc-sếtfourchette
phớtfeutre*mũ phớt (mũ dạ) : chapeau de feutre* bút phớt (bút dạ lông) : stylo feutre, crayon-feutre
phốt (bể phốt)fosse septique
phốt (mắc phốt, mắc lỗi)faute
phú-lítpolicecảnh-sát
phuộcfourche
phuốc-tăng/cổ phuốccần cổ xe-đạp
pi-a-nôpianođàn dương-cầm
pinpile vật chứa điện một chiều như pin đèn hay đèn pin.
pi-ra-mapyjama
pít-tôngpiston
ra-đi-ôradio
rayrail
ri-đôrideau
rơ (hợp rơ)jeu
rô-bi-nê /ru-bi-nêrobinetvòi-nước
rốc-kétrocket
rờ-co-măng-đêrecommandé"thơ bảo đảm"
rô-đa/rốt-đa (chạy rô-đa)rodage
rơ-lerelaisdụng cụ đặt xen trong một mạch điện để tự động ngắt mạch điện theo một điều kiện định trướcrơ le điện từ
rơ-mông-toaremontoircái chốt (để vặn giờ) đồng hồ
rơ-moócremorque
rông-đenrondelle(Khẩu ngữ) vòng đệm
ru-létroulette
ruy-băngruban
sa (sa-hoàng)tsartừ này có-thể là từ gốc Nga?
sạcchargebộ sạc
sa-lông/xa-lôngsalonphòng khách hay bộ ghế ngồi ở phòng khách
săm/xăm (ruột bánh xe)chambre, chambre à air
sâm-panhchampagne
sa-tăng (quỷ sa-tăng)Satan
séc (giới-tính)sexe
séc (chi-phiếu)chèque
séc (séc-đấu)set (tennis)
sên (dây sên xe-đạp)chainedây xích
sen-đầmgendarmecảnh binh
sếpchefông chủ, vị chỉ huy
sing-gumchewing-gum
sít-te?stereo
sốcchocCú sốc (coup de choc): sự ngỡ ngàng quá đáng khi gặp một chuyện mới.
sô-cô-lachocolat loại kẹo ngọt làm bằng bột ca cao
sô-fa (ghế sô-pha)sofa
sơ-mi (áo)chemise
soóc (quần soóc)short
sớp-phơchauffeurngười lái xe
sơ-ri (quả sơ-ri)cerise
su-hàochou-ravedanh pháp khoa học: Brassica oleracea nhóm Gongylodes) là một giống cây trồng thân thấp và mập của cải bắp dại,
súpsoupe
súp-lơchou-fleur cải có hoa non mọc tập trung thành một khối nạc, màu trắng, dùng làm rau ăn
Từ đồng nghĩa: cải hoa, hoa lơ
su-su (tiếng miền Bắc)/su-le (tiếng miền Trung)chouchou (ở Réunion, Île Maurice), chouchoute (ở Nouvelle-Calédonie)cây thân leo cùng họ với bầu, quả màu lục nhạt, hình quả lê, ngoài mặt có gai mềm, dùng làm thức ăn
sútshoot  đá mạnh quả bóng vào khung thành sút bóng vào gôn;
sút quả phạt đền
táchtasse  đồ dùng để uống nước, lớn hơn chén, thường làm bằng sứ, miệng rộng, có quai cầm"Ông lặng lẽ lấy bình, lấy tách pha trà, mời dì Tám Đơn và tôi (...)" (Đoàn Giỏi; 3)
tắc-xitaxi
ta-lôngtalonđế giày, viền vỏ xe
tăng (xe tăng)tank
tăng phanhtemps
tăng-đem (xe tăng-đem, xe đạp)tandem (bicyclette) xe đạp hai người đạp
tăng-gô (điệu tăng-gô)tango điệu vũ chậm, nhịp 2/4 hoặc 4/4 nhảy điệu tăng-gô
tem (con tem)timbre
típ (típ người)type
toatoi mày, cậu
toa-léttoilette
tô-mát (cà tô-mát)tomatecà-chua
tôn/tôn-nô (thùng tôn-nô)tonneau một thùng tôn-nô rượu vang
tôngton
tông-đơtondeur / tondeusemáy xén tóc, xén lông cừu
tờ-rôm-pét
trây-ditreillis
tuatour
tùng-bêtombe
tuốc-bin/tua-binturbine
tuốc-nơ-vít/tua-víttournevis
tuốt (biết tuốt)tout
tuýp (tuýp kem)tube
va-livalise vật dạng hình-hộp chữ-nhật đựng quần áo.
vanvalve
vanvannedụng cụ cho hơi ra hay hào, được tác-động theo người-sử-dụng, không có chu-kì nhất-định
van (điệu nhảy van)valse
vang (rượu vang)vin
va-nivanille chất có vị thơm đặc biệt từ một loại thảo mọc cùng tên
ve (xanh ve)vert
véc-nivernis
vét (áo vét)veste
vét-tôngveston
vi-da visachữ-kí xác-nhận, dấu thị-thực
vi-đê-ôvideo
vi-la villa biệt-thự
vi-ô-lôngviolon đàn bốn dây, nhỏ và nhẹ, khi chơi cặp giữa vai và cằm, kéo bằng vĩ
vítvis vật bằng kim loại hình côn hoặc hình trụ có ren, thường dùng để kẹp chặt các mối ghép tháo đượcbắt vít
vô-lăngvolant  tay lái ô tô, tàu thuỷ, v.v., có dạng vành tròn cầm chắc vô-lăng
xà-bông / xà-phòngsavon (tiếng Spain: "sabão") hóa chất dùng làm sạch, để tắm rửa hay giặt quần áo.
xắc (túi xắc)sac
xà-cộtsacoche túi vải để đựng vật dụng.
xà-lách/xa-látsalade
xà-lan/sà-lanchaland phương tiện vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ, có đáy bằng, thành thấp
xà-lỏn (quần xà-lỏn)sarong
xăngessence
xăng-đan/săng-đan (giày xăng-đan)sandales
xanh-tuaceinturedây thắt lưng
xa-rếtcharette xe-ba-gác (xe-tay), xe-bò
xa-tanhsatin
xéc /xéc-vítservice(xéc bóng bàn, bóng chuyền)
xẹccercle club
xẹcserveurhầu bàn
xê-ri (số xê-ri)sérieloạt, chuỗi
xi (xi giày)cire
xì-căng-đanscandale việc tai tiếng không tốt
xíchcycle dây kim loại gồm nhiều vòng, nhiều khúc giống nhau, móc nối liên tiếp với nhauxích xe tăng;
xe đạp tuột xích;
nối lại các mắt xích;xích lại với nhau
xích-lôcyclo xe ba bánh chở hành khách, người phu đạp xe ngồi ở phía sau.
xiếccirque rạp xiếc, trường đua, trường đấu Hi-Lạp cổ
xì-gàcigare thuốc-hút chế từ sợi khô của lá-cây thuốc-lá và được cuốn bằng chính lá- cây thuốc-lá để nguyênmiệng ngậm điếu xì-gà
xì-kesquelettebộ xươngám chỉ ngoại-hình người nghiện
xi-lanhcylindre bộ-phận hoạt-động chính của động-cơ, là không-gian để pít-tông di-chuyển
xi-lípslip quần lót của phái nam hay nữ
xi-măngcimentchất dính dùng trong kỹ nghệ xây cất, khi trộn với cát thành chất dính rất tốt để xây tường, lót gạch, hoặc tráng nền nhà.
xi-mi-li (vải)simili một loại vải
xi-nêcinéma, ciné chiếu bóng hát bóng
xi-nhan (đèn xi-nhan)signalbáo hiệu, tín hiệu
xi-phôngsiphon ống hình cong với hai nhánh so le, dùng để chuyển chất lỏng từ một nơi này qua một nơi khác có mực nước thấp hơn
xi-rôsyrop nước đường đã được chế biến
xít-đờ-ca (xe xít-đờ-ca)side-car Thuyền (của xe mô tô thuyền);
Xe mô tô thuyền..
từ này Pháp mượn của Anh nhưng Việt nam lấy của Pháp nên phát âm theo Pháp
xi-técciterne Bể nước mưa;
Bể chứa;
Két dầu (trên tàu chở dầu...)
xít-mét (bóng-đá)six mètres6m
seauvật sâu như cái liễn, có quai, dùng xách nước
xơ (bà xơ)soeur nữ-tu-sĩ Thiên-chúa giáo
xoa (vải xoa)soietơ, lụa
xơ-cuasecourscó-sẵn để thay-thế khi cần-thiết;Sự- cứu, sự cứu- giúp, sự-cứu-tế;đồ trợ-giúp, của trợ-giúp; tiền cứu-trợTừ-đồng-nghĩa: dự- phòngxe có lốp xơ cua
xờ-cút-tơ (xe xờ-kút-tơ)scooter xe hẩy (thứ xe hai bánh của trẻ con có chỗ đứng một chân, còn một chân để hẩy)
xờ-kiski ván trượt tuyết, môn trượt tuyết
xốtsaucenước xốt, nước chấmnước xốt cà-chua
xu (tiền xu)souđồng xu (sou): 1/10 của một cắc.
xu-chiêng/xú-chiêngsoutien-gorge áo nịch ngực của phái nữ
xúc-xíchsaucisse• món-ăn làm bằng ruột lợn nhồi thịt xay nhỏ rồi hun khói và luộc nhỏ lửa bánh-mì ăn với xúc-xích
xu-kem/su-kemchou à la crèmebánh xu-kem
xu-páp/xúp-páp/xú-pápsoupapevật dùng để cho không khí đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). xu-páp đóng mở tự-động hoặc có chu-kì cố-định
xúp-lêsifflerthổi còi
xu-xi (hoa xu-xi)soucis


Tài-liệu tham-khảo:

  1. Lê-Ngọc-Anh-Thư, Từ vay mượn của Tiếng Pháp, url: http://lnat1001.wordpress.com/2010/06/17/từ-vay-mượn-của-tiếng-phap/

  2. Diễn-đàn Viện Việt-học, url: http://www.viethoc.org/phorum/read.php?9,4018

  3.  Mạng Perso Wanadoo ở Pháp

  4. http://forum.acc.vn/giao_luu/hoi_hop/acc_quoc_te/chu_de_79393_nhung_tu_tieng_viet_goc_phap.htmx

  5. http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?p=1018049

  6. http://ttvnol.com/tiengviet/188313/page-9

  7. http://www.ptthlamson.net/forums/archive/index.php/t-3789.html

  8. http://tratu.vn

  9. http://tudien.xalo.vn/tratu/

  10. http://vi.wikipedia.org/wiki/

Sách nên tìm đọc

Tên sách: Từ điển các từ tiếng Việt gốc Pháp

Tác-giả: Nguyễn Quảng Tuân, Giáo-sư Nguyễn-Đức-Dân

Năm xuất-bản: 1992

Nơi xuất-bản: TP. Hồ Chí Minh

Nhà-xuất-bản: Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn hóa

Số trang: 535tr.

Kích-thước trang sách: 13 x 19 cm

Giới-thiệu:

Nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân sinh năm 1925, quê quán Hải phòng. Ông là nhà giáo, có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều, hiện đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đức Dân sinh năm 1936, hiện là giảng viên Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn-Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Cuối sách có phần phụ lục gồm hai bài chuyên khảo quan trọng về cách phát âm, cách viết chính tả các từ gốc Pháp và nhận xét về các từ tiếng Việt gốc Pháp.

“Quyển từ điển cũng cung cấp tài liệu để các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu các quy tắc và phương pháp sáng tạo các từ mới tiếng Việt và để các nhà văn hoá học-coi ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng của văn hoá- nghiên cứu sự giao lưu giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá Pháp” (trích lời giới thiệu của giáo sư Hoàng Như Mai).

URL nguồn: http://sachxua.net/forum/index.php?topic=930.40;wap2  

Xem thêm

Chữ Việt gốc Pháp còn tồn tại đến ngày nay

Tác giả: Nguyễn Đức Tuấn - Tống Phước Hiệp
Monday, 8 July 2013

.....

Hiện tại, trong vốn từ của Việt nam, ngoài 65% là từ gốc Hán còn khoảng hơn 400 từ là từ gốc Pháp, các từ này vẫn còn đang được sử dụng khắp nơi, nhiều khi miệng nói ra nhưng bạn không biết mình vừa nói một câu có chữ Pháp trong đó.

Lấy ví dụ:

Thằng đó chuyên môn lấy le để đi cua đào, nhưng con nhỏ kia thì lại hay làm reo.

Một câu như vậy là đã có 3 chữ Pháp, đó là chữ le, chữ cua và chữ reo, bởi vì trong tiếng Việt "le" là động từ trong khi ở đây là danh từ, "cua" trong tiếng Việt là danh từ trong khi ở đây là động từ, "reo" trong tiếng Việt là động từ trong khi ở đây là danh từ.

Các chữ đó vì đã quen dùng, ít người còn biết gốc gác là do đâu. Nếu việc phiên âm thể hiện rõ ràng thì bạn có thể lần mò mà tra ra được, song rất nhiều chữ mơ hồ, bạn đi tìm nguồn gốc rất khó.

Ví dụ:

Cây láp là do chữ gì ?

Doa là do chữ gì ?

Ca-ve là do chữ gì ?

Ma-cà-bông là do chữ gì ?

Những chữ như vậy, muốn biết, bạn phải đi hỏi những người đã từng sống trong thời Pháp và biết tiếng Pháp, tức những người từ 65 tuổi trở lên. Tiếc thay, số này còn lại không nhiều, các bậc cao niên thì lần lần ra đi hết, và trong số đó, không phải chữ nào họ cũng biết, vì có những chữ thuộc ngành nghề, có ở trong nghề mới biết.

Tiếng Việt gốc Pháp

Các phương pháp phiên âm

Nói cho đúng, các từ ngữ của Pháp du nhập vào Việt nam bằng nhiều con đường khá tản mạn: hoặc do thợ thuyền, hoặc do các nhà văn, nhà báo, khách ăn chơi, gái giang hồ, mỗi người phiên âm một cách, không thống nhất nhau. đàng khác, người miền Nam phiên âm theo cách của người miền Nam, người miền Bắc phiên âm theo cách của người miền Bắc, do đó cùng một chữ nhưng ta thấy có 2 cách phiên âm khác nhau.

Có thể xếp các cách phiên âm thành 6 dạng:

1.- Phiên âm chính danh:

Amibe -> A-míp
Balcon -> Ban-công
Canon -> Cà-nông
Chantage -> Săng-ta
Convoi -> Công-voa
Cylindre -> Xy-lanh
Enquête -> ăn-kết
Garde-manger -> Gạc-măng-giê
Patrouille -> Pa-trui
Piston -> Pít-tông
Poupée -> Búp-bê
Scandale -> Xì-căng-đan
Soupape -> Xú-bắp

2. Đọc trại đi:

Bavure -> Ba-dớ

Chou-rave -> Su hào

Fourrière -> Phú-de

Fraise -> Phay

Fromage -> Phó-mát

Police -> Phú-lít

Sacoche -> Xà-cột

Traverse -> Tà-vẹc

Vagabond -> Ma-cà-bông

3. Cắt bỏ bớt chữ:

Chambre à air -> Săm (bỏ 2 chữ à air)
Enveloppe -> Lốp (bỏ 2 vần enve)
Portefeuille -> Bóp (bỏ chữ feuille)
Pourboire -> Bo (bỏ chữ pour)
Roue libre -> Líp (bỏ chữ roue)

4.Cắt và nối vần:

Casserole -> Soong (son, nồi)
Tout de suite -> Tút suỵt (lập tức)

5. Lấy một âm (vần) trong chữ:

Trước
Cirage -> Xi (sáp để đánh giày)
Courir -> Cua * (tán gái)
Démarrer -> đề (mở máy)
Local -> Lô (xấu, sản xuất nội địa)

* động từ chia ở ngôi thứ 3 số ít và nói tắt thành ngữ courir après: theo đuổi một người, tán tỉnh một người (thường là phụ nữ), chữ khác: flirter.

Sau
Carreau -> Rô (con bài hình thoi)
Enveloppe -> Lốp (vỏ xe)
Gallon -> Lon (của sĩ quan)
Pourboire -> Bo (tiền tip)

6. Dịch âm và lấy cả mạo tự:
L'air Le (trong làm le, lấy le)
L'arbre Láp (trong cây láp)

1. Phiên âm Chính Danh
Ngày xưa, vì Việt nam không có chữ, khi tiếp xúc với người Pháp và những khí cụ mới lạ của người Pháp, người Việt phải mượn chữ của Pháp để gọi. Sự mượn chữ này thường là phiên âm nhưng vì tiếng Pháp là thứ tiếng đa âm, muốn biến thành đơn âm, người ta buộc lòng phải cắt chữ thành nhiều vần (syllable) để hoặc là lấy trọn hoặc chỉ lấy một phần. Trong quá trình phiên âm, đôi khi một âm bị đổi khác cho phù hợp với cách uốn giọng của người Việt, nhất là những người chưa từng học tiếng Pháp, chưa biết cách phát âm tiếng Pháp.

Ví dụ:

Cellule -> xà-lim.

Sacoche -> xà-cột

A. Lấy trọn từ gốc:
abcès áp-xe (mụt bị nung mủ)

affiche áp-phích (bích chương)

allez a-lê ! (nào ! đi đi !)

allez hop ! a-lê-hấp (làm ngay)

amibe a-míp (loài vi khuẩn hình que, thường tấn công đường ruột)

armé ạc-mê (trong xi-măng ạc-mê: xi-măng cốt sắt)

as ách (tên con bài tây)

as de carreau ách rô (tên con bài)

as de pique ách bích (tên con bài)

auto ô-tô (xe hơi)

autobus ô-tô-buýt (xe buýt)

autoclave ô-tô-cla-vơ (nồi áp suất)

automatique ô-tô-ma-tích (tự động)

auvent ô-văng (tấm dalle để che mưa nắng trên cửa sổ)

bâche bạt (tấm vải dầy)

balcon ban-công (bao lơn)

ballon banh-lông, banh (quả bóng)

ballot ba-lô (túi đeo sau lưng)

banc băng (ghế dài)

bande băng (bầy, bọn; dải dài)

bander băng (băng bó)

banderole băng-đơ-rôn (biểu ngữ)

banque băng (ngân hàng)

barème ba-rem (thang điểm để chấm thi)

bâton ba-toong (cây gậy)

bavure ba-dớ (rìa còn thừa nơi các đồ vật đã gia công cơ khí hoặc đúc)

bazar ba-za (tiệm tạp hóa)

bazooka ba-dô-ca (súng phóng phi đạn)

beau bô (đẹp, chỉ dùng cho phái nam)

béret bê-rê (mũ vải không vành)

beurre bơ (bơ sữa; quả avocado)

bidon bi-đông (bình nước nhỏ để mang theo mình khi đi xa)

bille bi (viên đạn tròn)

biscuit bích-quy (bánh nướng 2 lần)

blockhaus (từ gốc đức) lô-cốt (đồn canh)

bobine bô-bin (cuộn, ống dây)

bombe bom (trái nổ lớn)

bombé bom-bê (tóc cắt phùng hai bên)

Bordeaux bọt-đô (tên một thứ rượu nho có màu giống như hổ phách)

bordel bọt-đền (động điếm)

botte bốt (giày ống cao của lính)

boucle búc (khoen cài dây nịt)

bougie bu-gi (nến, nến điện)

boulon bù-lon, bu-lông (con ốc)

boum bum (cuộc họp của giới trẻ ở tư gia để khiêu vũ)

boxe bốc (quyền Anh)

boy bồi (cũng chỉ tên con bài, nhưng tiếng Pháp là valet)

brancard băng-ca (để tải thương)

brouette bù-ệt (xe đẩy để chở đồ vật nặng ở khoảng gần)

brouillon brui-dông (giấy nháp)

bus buýt (xe chuyên chở công cộng)

câble cáp (dây thừng bằng kim loại)

cacao ca-cao (trái của cây cacaoyer, từ đó trích ly ra chất béo có mùi thơm, dùng chế chocolat và làm bánh)

cachet cát-xê (tiền thù lao cho nghệ sĩ sau buổi biểu diễn)

cachot cát-xô (nhà giam)

café cà-phê (hạt của cây caféier, mùi rất thơm sau khi rang sấy)

caisse két (ngăn tủ đựng tiền; thùng đựng hàng)

caleçon xà-lỏn (quần đùi)

calibre ca-líp (khẩu độ nòng súng)

calquer can-kê (đồ lại một mẫu có sẵn)

camion cam-nhông (xe chở hàng)

canot ca-nô (loại thuyền nhẹ)

canon cà-nông (súng lớn)

car ca (chiếc xe, xe ca)

carabine cạc-bin (một loại súng trường)

caramel ca-ra-men (đường nung trở màu)

carbone cạc-bon (chất than)

cari cà-ry (món ăn gốc ấn độ)

carré ca-rê (vuông, số bình phương)

carreau ca-rô (hình ô vuông, tên con bài Ù)

carotte cà-rốt (củ cải đỏ)

cartable cặp-táp, cặp (để đựng sách vở)

carte cạc, các (tấm thẻ)

carte verte cạc-vẹc (thẻ xanh, bằng lái xe)

carte visite cạc-vi-zít (danh thiếp)

carter cạc-te (phiến kim loại để che dĩa răng và dây sên nơi bàn đạp, do tên nhà sáng chế người Anh)

carton cạc-tông (bìa cứng)

cartouche "tút" (cây thuốc lá); viên đạn (vũ khí)

cary cà-ry (món ăn gốc ấn độ)

cas ca (trường hợp)

cowboy cao-bồi (để chỉ người du đãng)

cellule xà-lim (phòng biệt giam)

cercle sẹc (câu lạc bộ)

cerise sơ-ri (trái -)

chaîne sên (dây xích xe đạp, xe gắn máy)

chaland xà-lan (tàu mặt bằng để chở hàng hóa)

chaloupe xà-lúp (tàu lớn để chở thuyền bè)

Champagne săm-banh (tên rượu của Pháp)

chantage săng-ta (sự tống tiền)

charge(r) xạc (nạp điện cho pin hay ắc-quy)

chaudière súp-de (nồi -)

chauffeur sốp-phơ (tài xế)

chef xếp (người chỉ huy)

chemise sơ-mi (áo -)

cher (ère) "se" (thân thích)

chignon si-nhông (búi tóc bó trên đầu)

choc "sốc" (chấn động mạnh)

chocolat sô-cô-la (kẹo chế từ bơ ca cao)

chou su (tên một loại bánh ngọt)

chou à la crème su kem (bánh su có nhân kem)

chou-fleur súp-lơ (bông cải trắng)

chou-rave su hào (loài rau củ)

cigare xì-gà (thuốc cuộn bằng lá thuốc)

ciment xi-măng

ciné xi-nê (chiếu bóng)

cirage xi -ra, xi (để đánh giày)

cirque xiếc, xiệc

citerne xi-tẹc (bồn chứa nước)

cocktail cốc-tai (nước trái cây có pha rượu)

cỵur cơ (con bài tây hình trái tim ờ)

coffrage cốp-pha (gỗ đóng để đổ cột trụ bằng xi măng cốt sắt)

coffre cốp (tủ, ngăn tủ, thùng xe)

coffre-fort cốp-pho (tủ sắt để đựng tiền)

cognac cô-nhắc (tên rượu của Pháp)

col côn (cổ áo)

commande còm-măng (đơn đặt hàng)

commissaire (de police) ông cò (ủy viên cảnh sát)

commission còm-mít-sông (huê hồng)

compas com-pa (vật để vẽ cung tròn)

consigne cồng-sin (hình phạt cấm túc)

contrat công-tra (khế ước, hợp đồng)

convoi công-voa (đoàn quân xa)


copier cọp-dê, cóp (chép lại bài làm của người khác)

corps co (thân mình, thường để chỉ người có ngực nở, eo thon)

corset coóc-sê (áo bó ngực và bụng của phụ nữ)

corvée cỏ-vê (hình phạt khổ sai)

costaud cốt-xì-tô (to con, vặm vỡ)

coup cú (phát, trận)

coup de foudre cú-đờ-phút (tiếng sét ái tình)

coupe cúp (quà thưởng thể thao)

coupe cúp (cách cắt, hớt tóc)

courreur cua-rơ (người chạy đua)

courroie cu-roa (đai chuyền)

cours cua (bài học, khóa học)

course cuốc (quãng đường đi bộ hay xe)

course cuộc (sự chạy đua xe)

crêpe kẹp (tên một loại bánh ngọt có nhiều lớp bột được cán mỏng)

cuillère cùi-dìa (cái muỗng, cái thìa)

cravate cà-vạt

crème kem, cà-lem

cresson xà-lách-son

cube cuýp (khối, lập phương, tam thừa)

cyclo xích-lô (loại xe chuyên chở khách)

cylindre xy-lanh (nòng máy nổ)

dalle đan (tấm đúc bằng xi măng)

dame đầm (đàn bà Pháp, cũng để chỉ tên con bài nhưng tiếng Pháp là reine)

dancing đăng-xinh (nơi khiêu vũ)

dé đê (vật bằng kim loại để tra vào đầu ngón tay lúc may vá, tránh bị kim châm)

démarrer "đề" (khởi động máy)

démarreur đề-ma-rơ (bộ phận khởi động máy xe)

docteur đốc-tờ (bác sĩ y khoa)

douille đuôi (bộ phận để gắn bóng đèn)

drap d'ra (vải trải giường)

eau de Cologne ô (đờ) cô-lôn (xem Cologne)

eau de Javel ô (đờ) ja-ven (nước Javel, tên thương mại của dung dịch hypochlorite và chlorure de sodium)

écho ê-cô (tiếng vang)

écrou ê-cu (con tán để vặn vào bù-lon)

enquête ăn-kết (cuộc điều tra)

équerre ê-ke (thước vuông góc)

étiquette ê-ti-kết (nhãn vở)

faille phay (đường nứt sụp trên mặt đất)

fantaisie phăng-te-zi (sự làm ngược đời)

fauteuil phô-tơi (ghế bành)

fiche phích (vật để cắm điện)

filtre phin (vật để lọc lấy nước, bỏ bã)

fond phông (nền phía sau)

fontaine phông-tên (vòi nước máy)

fourrière phú-de (nơi chứa những đồ vật bị cảnh sát tịch thu)

fraiser phay (cắt gọt phẳng bằng máy)

frein phanh (cái thắng, từ dùng ở miền Bắc)

fủt phuy (thùng đựng xăng dầu)

galant ga-lăng (nịnh đầm)

galon ga-lông, "lon" (quân hàm)

gamelle cà-mèn (đồ để đựng thức ăn)

gant găng (bao tay)

garage ga-ra (nhà để xe)

garantie ga-răng-ti (bảo đảm, bảo hành)

garde gác (canh chừng)

garde-boue gạc-đờ-bu (cái vè xe)

garde du corps gạc-đờ-co (người hộ vệ)

garde-manger gạc-măn-giê (tủ đựng đồ ăn)

garde-robe gạc-đờ-rốp (tủ treo quần áo)

gardien gác-dan (người giữ cửa)

gare ga (nhà ga, nơi tàu hỏa đậu)

garrot ga-rô (băng buộc để ngăn máu chảy ngược về tim)

gaz ga (hơi đốt)

gendarme sen đầm (cảnh binh)

gène gi-en (genus, yếu tố di truyền)

glaĩeul lay-ơn (hoa huệ tây)

gomme gôm (cục tẩy)

goủt "gu" (sở thích)

grève (cuộc đình công) reo (trong: làm reo)

guidon ghi-đông (tay lái xe hai bánh)

harmonica ác-mô-ni-ca (kèn dẹp)

hautbois ô-boa (kèn mộc)

haut-parleur ô-pạc-lơ (cái loa)

houblon hốt-bố (loài dây leo có quả để tạo mùi cho rượu bia)

jeu "rơ" (chỗ bị sút rời ra, long ra)

jeu "jơ" (cách chơi, như "hợp jơ")

jour rua (chỗ vải được tách ra thành ô trống khi thêu viền)

jube ríp (váy phùng của phụ nữ)

jube serrée ríp se-rê (váy bó của phụ nữ)

judo juy-đô (nhu đạo)

l'air "le" (trong: làm le, lấy le)


laine len (sợi làm từ lông cừu)

lancer lăng-xê (quảng cáo để đưa lên)

libre líp (tự do)

limonade li-mô-nát (nước chanh)

litre lít (dm khối)

local lô-can, "lô" (đồ nội địa, đồ xấu)

lot lô (một phần trong toàn khối)

loto lô-tô (trò chơi gồm 90 con số)

loupe kính lúp (kính phóng đại)

maboul (từ gốc ả rập) ma-bùn (điên)

maillechort mai-so (hợp kim đồng, kền và kẽm, dùng làm dây điện trở bếp lò, do tên hai nhà sáng chế Maillot và Chorier ghép lại)

maillot may-ô (áo thun)

malin ma-lanh (láu cá)

manchette măng-sết (cổ tay áo; tít lớn)

manchon măng-sông (loại đèn)

mangoustan măng-cụt (quả)

manỵuvre ma-nớp (sự vận động, chạy chọt)

marque mác (thương hiệu; bộ vó)

matraque ma-trắc (dùi cui)

médaille mề-đay (huân chương)

(Je) m'en fout măng-phú (tôi) cóc cần

menthe măng (dầu chiết xuất từ lá bạc hà)

merci méc-xì (cám ơn)

merde mẹt (cứt, tiếng để chửi)

mètre mét (thước)

mignonne mi-nhon (dễ thương)

mine mìn (chất nổ)

molette mỏ-lết (kìm vạn năng)

monsieur me-xừ (ông)

mortier mọt-chê (súng cối)

mousse mút (vật mềm và đàn hồi được)

mouchoir mùi-xoa (khăn tay)

nette "nết" (rõ ràng, nói về hình ảnh)

nỵud nơ (cái gút thắt bằng vải)

notaire nô-te (chưởng khế)

note nốt (chấm dùng trong âm nhạc)

nouille nui (thức ăn bằng bột mì, gốc ý)

ovale ô-van (hình thuẫn)

pagaille (sự hỗn loạn) ba-gai (hay sinh sự)

palabre(s) bá-láp (chuyện phiếm)

(en -) panne ăn-banh (bị hư máy)

passe-port pát-po (giấy thông hành)

passer pát-xê (đưa qua)

pastel phấn tiên (loại bút màu để vẽ)

pâté pa-tê (thịt hoặc gan bằm và hấp)

pâté chaud pa-tê-sô (loại bánh có nhân thịt)

patente pa-tăng (thuế môn bài)

patron pa-trông (rập để may quần áo)

patrouille pa-trui (việc đi tuần tiễu)

pédale pê-đan (bàn đạp)

pédé pê-đê (người đồng tính luyến ái)

perle bẹt (hạt trai, hột cườm lớn)

permis pẹc-mi (giấy phép)

petit pois pơ-tí-poa (tên loài đậu hạt tròn)

phare pha (đèn rọi sáng ra xa)

phase pha (giai đoạn, vị tướng hình sin của chu kỳ điện xoay chiều)

pile pin (nguồn điện một chiều)


pipe píp (ống điếu)

pique bích (tên con bài tây ở)

pique-nique píc-níc (bữa ăn ngoài trời)

piste pít (sàn nhảy)

piste (d'envol) pít (đường bay, đường băng)

piston pít-tông (vòng để nén hơi)

plafond pla-phông (trần nhà)


pli li (chỗ xếp nếp quanh váy đầm)

poignard boa-nha (dao găm)

poignée poa-nhê (tay cầm xe đạp)

police phú-lít (cảnh sát)

polir pô-lia (đánh bóng)

pompe bơm (đồ để thổi hơi)

pont boong (cầu tàu)

popeline pô-pơ-lin (tên loại vải có số sợi đường canh ít hơn đường dọc)

porte-bagage bọt-ba-ga (yên phụ để chở đồ)

portefeuille bóp-phơi (cái bóp, cái ví)

pose pô (sự đứng để chụp hình, được hiểu là kiểu hình)

poste bót (cái đồn)

poulie pu-li (cái ròng rọc)

poupée con búp-bê

pourboire buốc-boa (tiền bo, tiền tip)

prise-de courant pri-cu-răng (ổ cắm điện)

quart ca (vật có dung tích bằng 1/4 lít, có quai, dùng để uống nước)

quart ca (phiên làm việc hay canh gác)

queue cơ (cây gậy để thụt billard)

quinine ký-ninh (thuốc để trị bệnh sốt rét)

rafale ra-phan (tràng súng dài)

rafle (bố -) ráp (cuộc ruồng bắt)

ragoủt ra-gu (món thịt nấu với rau, củ)

rail (đường) rầy (cho xe lửa chạy)

ralenti ra-lăng-ti (chạy chậm)

rame "ram" (xấp 500 tờ giấy)

recette rờ-sết (cách nấu món ăn)

reçu rờ-xuy (tờ biên nhận)

réglo rếch-glô (trung thực, nguyên tắc)

remorque rờ-mọt (xe được kéo bằng một xe khác)

ressort rét-so, lò-so

retouche rờ-tút (chấm, sửa lại hình ảnh)

revers rờ-ve (cú đánh ngược tay trong môn bóng bàn hay quần vợt)

rhum rum (tên loại rượu nho)

rideau ri-đô (tấm màn)

robinet rô-bi-nê (vòi nước, do Robin, người đã sáng chế)

rodage rốt-đa (chạy cho nhuần máy)

ronde rông (một loại ngòi viết đầu dẹp)

rondelle long-đền (vòng sắt mỏng)

roquette rốc-kết (phi đạn tự bay đi)

rôtie rô-ti (món thịt nướng hoặc quay)

roulette ru-lết (bánh xe răng cưa của thợ may để vạch đường trên vải; tên một trò cờ bạc ở casino)

sabot sa-bô (guốc)

sacoche xà-cột (túi vải nhỏ để đựng đồ nghề, thường máng sau yên xe)

salaud xà-lù (đồ vô lại, tiếng để chửi)

salon sa-lông (phòng để tiếp khách)

sandale săng-đan (loại giày da hở chân)

sandwich săng-uých (bánh mì cắt thành nhiều miếng đặt sát nhau)

sapotier sa-pô-chê (cây, trái hồng xiêm)

satin sa-tanh, sa-teng (tên loại vải)

sauce xốt (nước xốt)

saucisse xúc-xích (lạp xưởng của Tây)

savon xà-bông, xà-phòng

saxo sắc-xô (tên loại kèn do ông Sax chế tạo)

scène "sen" (màn kịch)

seau sô (vật để đựng nước)

serge sẹc (một loại vải len mỏng)

seringue sơ-ranh (ống tiêm)

sérum xê-rum (huyết thanh)

sieur xừ (ông ấy)

signal(er) si-nhan (ra dấu)

sirop xi-rô (nước đường dạng sệt)

slip xì-líp (quần lót)

sofa sô-pha (loại ghế nằm được)

soldat săng-đá (lính)

solde son (bán hạ giá, bán rẻ)

sompteux xôm-tụ (thịnh soạn, nhiều)

sou xu (đồng xu)

soude xút (chất kiềm soda NaOH)

souffler súp-lê (hú còi; nhắc bài, nhắc tuồng cho người khác)

soupape xú-bắp (van để chặn và cho thoát hơi trong náy nổ)

soupe xúp (nước canh)

sous-titre sú-tít (phụ đề phim)

sủre suya (chắc chắn)


talon ta-lông (niền thép quanh vỏ xe; cùi nhân phiếu)

tank tăng (xe thiết giáp)

taquet tắc-kê (miếng gỗ để đóng chìm vào tường, lấy chỗ để bắt vít)

tasse tách (vật để đựng nước uống)

taxi tắc-xi (loại xe chuyên chở khách)

teinte teng (rỉ sét)

teinture d'iode canh-ti-dót (tên một thứ thuốc sát trùng ngoài da)

temps tăng (thời gian; một trận)

terrasse te-rát (sân thượng)

tétanos tê-ta-nốt (bệnh phong đòn gánh)

thermos téc-mốt (bình thủy)

timbre tem (để dán nơi bì thư)

titre tít (tựa đề)

tôle tôn (tấm kim loại để lợp nhà)

tonneau ton-nô (thùng gỗ để đựng rượu)

tourne-vis tua-vít (đồ để mở vít)

tout de suite tút-suỵt (ngay lập tức)

tranchée tăng-xê (hào chiến đấu)

traverse tà-vẹt (thanh thép ngang trên đường rầy xe lửa)

treillis trây-di (quần áo lính để tập trận)

treuil trơi (bánh xe có quấn dây cáp để nâng các vật nặng lên)

tube tuýp (ống, ống đựng thuốc)


tulle tuyn (loại hàng mỏng)

tungstène tung-teng (kim loại thường dùng làm tim bóng đèn điện)

type týp (loại)

typo ty-pô (thợ sắp chữ ở nhà in)

vaccin vắc-xanh (thuốc chủng ngừa)

vagabond ma-cà-bông (người lang thang)

valise va-li (cặp da để đựng quần áo)

valve van (khóa đường ống)

vanille va-ni (trái của cây vanillier, có mùi thơm dùng để làm bánh)

vernis vẹc-ni (chất để đánh màu gỗ)

veste vét (áo vét)

veston vét-tông (loại áo vét ngắn)

vin vang (rượu nho)

vis con vít, con ốc

yaourt da-ua (món sữa chua)

B.- Lấy một phần từ gốc:

accu mulateur ắc-quy (bình tích điện)

ai guille ghi (vật để bẻ đường ray xe lửa sang hướng khác)

al cool cồn (để đốt)

alésoir doa (lưỡi doa, để xoáy rộng đường kính trong của một vật)

l'arbre de transmission cây láp

ar rière (đàng sau) de (lui ra sau)

bec pulvérisateur béc phun (dầu, xăng)

bouquet de fleurs búp-kê (tràng hoa phúng)

Cap Saint-Jacques (ô -) Cấp (Vũng tàu)

car reau rô (con bài hình thoi)

cas quette kết (mũ lưỡi trai)

cas s er ole son (nồi nhỏ)

caval ière ca-ve (gái nhẩy)

ci rage xi (chất sáp để đánh giày)

commissaire de police ông cò (cảnh sát trưởng)

commission tiền cò (huê hồng)

correcteur thầy cò (người sửa bản in)

coupure cúp (sự cắt điện, nước)

courir après cua (theo đuổi một cô gái)

chambre à air săm (ruột bánh xe)

démarrer đề (khởi động máy xe)

faire feu phơ (bắn hạ)


enveloppe lốp (vỏ bánh xe)

essence xăng (nhiên liệu lỏng)


local lô (đồ nội địa)

nickel kền (tên kim loại sáng trắng)

niveau à bulle d'air ni-vô (ống thủy chuẩn)

ỵuf sur le plat ốp-la (món trứng chiên)

origine gin (còn mới nguyên)

pièces de rechange đồ dết (phụ tùng để thay khi bị hư hỏng)

portefeuille bóp (cái ví)

pot d'échappement ống pô (ống khói xe)

pourboire bo (tiền tip)

roue libre líp (bánh răng truyền động có khả năng quay ngược)

rouleau compresseur hủ-lô (xe cán đường)


supplémentaire súp (tiền phụ trội)

tension artérielle tăng-siông (huyết áp)

tomber en panne ăn-banh (bị hư hỏng máy)

(Chú ý: các phần in nghiêng là các phần bị bỏ qua khi phiên âm).

Số chữ Việt gốc Pháp có hơn trăm và hiện tại vẫn còn được sử dụng ở nhiều nơi, kể cả ở miền Bắc, nơi đả phá việc sử dụng tiếng nước ngoài. Bạn nên biết rằng sau khi Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền, việc sử dụng tiếng Anh, tiếng Pháp bị cấm tuyệt đối, thuở ấy, miền Bắc rất cực đoan, những gì thuộc về thực dân đều bị kịch liệt đả phá. Thế nhưng vẫn có nhiều chữ lọt lưới. Lấy ví dụ: PHANH (cái thắng), LốP (vỏ xe), SăM (ruột xe), CUốC (chuyến đi bộ hay xe), Xà CộT (cái bọc đựng đồ phụ tùng), BI đôNG (bình nước), CồN (alcool)..., dân vẫn thản nhiên nói, không những thế, xí nghiệp Nhà nước còn sản xuất SăM, LốP, PHANH... và để nguyên xi các chữ đó trên bao bì. Thì ra có cả một tập thể dốt, thấy đó mà không biết gốc gác.

Qua danh sách khái lược bên trên, bạn thấy tiếng Pháp xâm nhập vào ngữ vựng Việt nam cũng là đáng kể, nó xâm nhập bằng nhiều cách, chính thức phiên âm cũng có mà nói trại đi cũng có, cái đáng nói là người Việt nhiều khi chỉ lấy một phần trong từ hoặc ngữ (từ là một tiếng, ngữ là nhóm nhiều tiếng) để tạo thành chữ mà dùng.





Những khó khăn mà người đời sau gặp phải


Ngày xưa, số người tham gia việc phiên âm đa số là ký giả, nhà văn và một phần nữa là thợ thuyền. Trong số những người này, có người rành tiếng Pháp và có người không rành tiếng Pháp, họ phiên âm để mà dễ đọc, dễ nói chuyện với nhau.

Tôi nêu ra đây 2 chữ của thợ cơ khí:

PHAY, phiên âm từ chữ Fraise (lưỡi phay).

DOA, phát nguyên từ chữ Alésoir (lưỡi xoáy).

Fraise và Alésoir đều là danh từ, chỉ dụng cụ để thực hiện việc cắt gọt. Các từ trên đều có động từ tương ứng là Fraiser và Aléser, nhưng người Việt dùng ngay danh từ làm động từ, muốn thành danh từ, để chỉ hành động, người ta thêm chữ "sự" hay chữ "việc" đàng trước, để chỉ dụng cụ, họ thêm chữ "lưỡi": Phay ợ Lưỡi phay, Doa ợ Lưỡi doa, Bào ợ Lưỡi bào vv...

Các từ này phổ thông trong nghề nghiệp, giúp thợ thuyền dễ nói chuyện với nhau nhưng trên báo chí, đôi khi cũng có đăng đến. Do đó, đọc mà muốn hiểu, bạn phải đi tìm hiểu.

Khổ thay, việc tìm hiểu đôi khi không dễ, như chữ DOA, bạn đi tìm ở đâu ?

Trong tiếng Pháp, không có chữ nào đọc là Doa hay Zoa hết.

Chữ SOIR (buổi chiều tối) đọc là soa, muốn đọc thành zoa, phía trước nó phải có nguyên âm, đó là qui tắc để đọc chữ S, nhưng trong từ điển có vô vàn chữ tận cùng như vậy, đi tìm trong cả ngàn trang để kiếm một chữ thì đúng là đáy biển mò kim ! Chữ PHAY thì dễ tìm, vì âm phờ thường là do một từ bắt đầu bằng PH hoặc F, không kiếm được ở vần PH thì đi kiếm ở vần F, lục một hồi là ra.

Nhân đây, tôi đưa ra một nhận xét lấy từ thực tế: chữ do thợ thuyền Việt nam đặt thường khi không chuẩn xác, vì họ ít học.

Lấy một ví dụ: POAN-TU [poan-tuy] là từ mà thợ Việt nam hay dùng để chỉ thanh thép có đầu nhọn dùng để đóng lấy dấu trên mặt kim loại mà gia công. Chữ này sai, vì pointu chỉ có nghĩa là nhọn chứ không có nghĩa là mũi nhọn. Chữ chính xác là chữ POINçON [poan-sông], trong thợ thuyền, người nào nói được chữ poan-sông là người biết chữ, còn nói khác là người dốt chữ. Trình độ về nghề và trình độ về chữ là hai điều khác nhau xa lắm, có những người trình độ tiến sĩ, kỹ sư, tốt nghiệp ở nước ngoài mà viết vẫn sai tiếng nước đó, vì chính ra họ chỉ học về chuyên ngành chứ không học về chữ (tôi đã gặp một giáo sư là tiến sĩ Sorbonne dạy ở luật khoa Sài gòn niên khóa 1969-1970 nhưng đọc và viết sai chữ coĩncider, đã có nói trong bài Tiếng nói và giọng nói, PSSC xuân 2008).

Từ chữ PHAY, tôi hỏi các bạn đã có học qua chữ Pháp: chữ PHAY trong địa lý học có phải là do chữ FRAISE không ?

Nếu bạn trả lời là phải, tôi sẽ bảo rằng không phải, đó là do chữ FAILLE, đường nứt sụp trên mặt đất chứ không phải chữ Fraise.

Câu hỏi khác: Trong các loại dao dùng trong bếp có một loại gọi là DAO PHAY, dao này có liên quan gì đến nghề cơ khí không ?

Muốn biết, bạn phải tìm hiểu xem dao này có từ thời nào, nếu có trước thời Pháp thì chữ này là chữ Việt hoàn toàn, việc trùng âm chẳng qua chỉ là sự ngẫu nhiên, chính tôi cũng không biết rõ về điều đó.

Còn một chữ nữa: Xé PHAY. "Gà xé phay" thì ai cũng biết, nhưng phay đó là gì ? Viết bằng Y dài hay I ngắn ?

Theo cách đọc của người miền Nam, chữ đó là I ngắn, nhưng viết bằng I ngắn lại không có nghĩa gì, vì "phai" là lợt, là nhạt đi, đâu có dính dáng gì đến miếng thịt gà ?

Chữ nghĩa lôi thôi lắm, tại vì các bạn không để ý nên thấy mọi sự bình thường, chứ tôi thì hay quan tâm đến những cái nhỏ nhặt trong ngôn ngữ, bởi đi dạy học mà không chuẩn bị trước, lúc học trò hỏi, không biết phải trả lời ra sao. Một năm nọ, có đứa học trò hỏi tôi "Thưa thầy, cá khoai và cá phai, chữ nào đúng ?" Tôi ắng ớ, bởi vì trong gia đình, người nhà tôi gọi là cá phai nhưng tôi đã từng nghe một bài dân ca miền Trung có chữ cá khoai trong đó. Ai nói đúng ?

Hãy xét vấn đề cho kỹ, bởi vì trong một bài dân ca miền Bắc, nhạc sĩ Phạm Duy đã từng phổ biến câu hát "Một bầy tang tình con nít ố mấy lội, lội sông, ố mấy đi tìm..." (bài Cái trống cơm), câu này có một chữ sai nghiêm trọng là chữ "con nít."

"Con nít mà cho lội sông, bộ muốn nó chết đuối à ?" Người phê bình là anh Nguyễn Hoài Nam, cây bút nổi tiếng của tờ Quân đội nhân dân, Hà nội, đã từng có bài đăng trên Phù sa sông Cửu và trên cả đặc san của trường Tống Phước Hiệp, Cali.

Anh cho biết chữ đó là con sít, một loài chim chuyên phóng xuống nước và lội để bắt cá, người miền Bắc hay nói "con sáo con sít", sít chính là loài chim đó.

Sự sai lạc đã được vạch trần sau bao nhiêu năm người miền Nam vẫn tin theo bản in và hát theo những gì đã nghe trên đài phát thanh. Chính Phạm Duy là người miền Bắc mà vẫn nói sai thì bạn thấy tiếng nói rất là quan trọng, một người nói sai làm cho trăm người nói sai, ngàn người nói sai, vạn người nói sai, cả một tập thể người nói sai. Tuy nhiên, trong tập thể vẫn còn những người nói đúng, đó là những người còn biết giữ ngôn ngữ của nước mình.

Báo chí, sách vở, đài phát thanh... là những phương tiện để truyền thông tin tức, đem sự hiểu biết đến cho mọi người. Tuy nhiên, đôi khi các phương tiện đó lại đem đến cho mọi người sự hiểu biết sai, vừa rồi là một ví dụ. Ví dụ khác:

Trên sách báo, trong 8 năm qua, tôi 3 lần gặp người ta nói sai về tên làng nơi tôi ở.

Lần thứ nhứt, trong truyện ngắn "Người nữ thư ký của luật sư", nhà văn Xuân Vũ nói xã ở cạnh xã tôi là xã Hạnh Thông Tây.

Lần thứ hai, trong "Bến Nghé xưa và nay", nhà văn Sơn Nam viết rằng con đường từ Bà Chiểu đi vào Bình hòa sẽ tới xã Hạnh Thông.

Lần thứ ba, trong "Thêm một chuyện tình", Sơn Ca Bà Bà cũng gọi Hanh Thông Tây là Hạnh Thông Tây (PSSC xuân 2010, trang 113).

Hanh và Hạnh chỉ khác nhau có dấu nặng dưới chữ A. Tuy nhiên, nếu viết ra bằng chữ Hán, hai chữ ấy khác nhau hoàn toàn.

Như ở mục A, nơi vần R, tôi có trình bày gốc của chữ RáP và cho biết đó là do chữ RAFLE mà ra. Trước chữ ráp, tôi đề chữ "bố" trong ngoặc đơn, ý nói rằng trong dân gian, người ta hay nói chung hai chữ đó thành "bố ráp."

Bạn nghe chữ bố ráp chắc thấy bình thường, nhưng tôi thì thắc mắc, vì bố là chữ Hán cùng nghĩa với chữ rafle, tại sao ghép dính lại với nhau ? Ghép như vậy là nhân đôi nghĩa, nói hai lần một ý.

Người Việt hình như xem việc này như bình thường, dẫn chứng:

Cây Láp, có nêu ở mục B.

Trong tiếng Pháp, ARBRE có nghĩa là cây (tree), thêm mạo tự vào thì ra L'ARBRE, người Việt đọc trại ra thành LáP. Láp đã có nghĩa là cây, tại sao phải thêm chữ cây đàng trước nữa ?

Trở lại thời xa xưa, khi chữ Nho còn ngự trị, người ta gặp nhiều trường hợp tương tự:

BINH là lính, nhưng cũng có từ binh lính

CHỉ là trỏ, nhưng cũng có từ chỉ trỏ

ĐẠC là đo, nhưng cũng có từ đo đạc

CHI là nhánh, nhưng cũng có từ chi nhánh

CốT là xương, nhưng cũng có từ xương cốt

HộI là họp, nhưng cũng có từ hội họp

HUNG là dữ, nhưng cũng có từ hung dữ

KHIếP là sợ, nhưng cũng có từ khiếp sợ

Mộ là mến, nhưng cũng có từ mến mộ

MộNG là mơ, nhưng cũng có từ mơ mộng

NGHIệP là nghề, nhưng cũng có từ nghề nghiệp

PHượNG là thờ, nhưng cũng có từ thờ phượng

QUáN là quê, nhưng cũng có từ quê quán

SINH là đẻ, nhưng cũng có từ sinh đẻ

SINH là sống, nhưng cũng có từ sinh sống

SắC là màu, nhưng cũng có từ màu sắc

TĩNH là yên, nhưng cũng có từ yên tĩnh

THAI là dấu hiệu ốm nghén (fỵtus), nhưng cũng có từ thai nghén

THế là thay, nhưng cũng có từ thay thế

TRá là dối, nhưng cũng có từ dối trá

Xã là làng, nhưng cũng có từ làng xã

Bạn có thấy người Việt nam "đa ngôn" không ?

Tôi nể người Việt nam thật, vì họ nói quá nhiều, nói và không từ chuyện lặp lại một ý đã nói rồi, nói một hơi 2 chữ trong khi có thể gom vào một chữ. Việc nói thừa chữ như vậy, người Pháp gọi là redondance, chính dân họ cũng có nói thừa chứ không riêng gì người Việt, song chỗ họ nói thừa thường nằm trong câu chứ không nằm trong chữ.

Ngôn ngữ là một thứ nếu nghiên cứu, bạn thấy rất thích, vì nó mở cho bạn thấy những cái lạ của con người trong việc ăn nói. Trong bài viết năm nay, tôi khai thác về vấn đề mượn tiếng của nhau để nói chuyện. Chính người Pháp cũng có mượn chữ của Việt nam chứ không phải không, bạn nào có từ điển của Pháp, mở ra ở vần C sẽ thấy chữ Cagna và Congaĩ, hai chữ gốc Việt nam: cái nhà và con gái, song họ mượn mà hiểu khác nghĩa đi. Cagna đối với họ là nhà tranh vách đất, loại nhà mà họ nhìn thấy ở thôn quê Việt nam, còn Congaĩ là đàn bà An nam chứ không phải là thiếu nữ, bởi trong tiếng nước họ, những điều đó đã có chữ rồi, họ không cần phải mượn thêm nữa.

Sự hiểu xa nghĩa gốc này là chuyện cũng bình thường vì Việt và Pháp ở quá xa nhau, gần như Tàu và Việt, Việt nam vẫn hiểu lầm nhiều chữ của Trung quốc, thường thấy nhất là:

Bồi hồi: đi tới đi lui (to go back and forth), Việt nam hiểu là cảm xúc trong lòng.

Lang thang: dáng áo dài lòa xòa, phất phơ, Việt nam hiểu là đi phất phơ, vô định xứ.

Triền miên: quấn quýt nhau, Việt nam hiểu là kéo dài mãi không dứt.

Thủy tinh: tinh thể silic loại tốt, pha lê: tinh thể silic loại xoàng. Việt nam hiểu ngược lại, cho rằng pha lê mới tốt, thủy tinh là đồ ve chai.

Ở sát bên nhau mà còn như vậy thì đừng nói chi ở xa như Pháp với Việt nam !

Việc phiên âm và cắt bỏ chữ gây nhiều trở ngại cho người muốn tìm hiểu và cả những người muốn dịch thuật, nếu không sống vào thời đại đó.

1.- Một món ăn mà bạn nào cũng biết là món trứng ốp-la. Nhìn chữ lạ, các bạn trẻ biết ngay đó là chữ phiên âm từ tiếng nước khác, nhưng "ốp-la" là từ chữ gì ?

Phân tích chữ: ốP là do chữ ệUF, cái trứng, LA là do chữ PLAT, cái dĩa. Hai chữ này không nằm sát nhau mà lại nằm cách nhau trong nhóm chữ ỵuf sur le plat, nghĩa đen là trứng nằm trên dĩa, song ở đây là trứng chiên nửa sống nửa chín, tròng đỏ còn nguyên, không bị vỡ ra. Món này là món bạn rất thường ăn nên không cần phải nói nhiều hơn nữa.





2.- Chữ SăM (cái ruột xe) cũng là chữ nằm trong nhóm chữ.


Ngày xưa, trước khi văn minh Tây phương xâm nhập vào lãnh thổ nước ta, người dân chưa biết ruột xe là cái gì, vì xe dùng trong nước là xe bò, xe ngựa, bánh xe là một vòng bằng gỗ có đai thép niền quanh.

Loại xe này đi hay bị dằn xóc, đi xe của người Pháp, thấy êm ái hơn, vì họ thông minh, biết đệm bánh xe bằng một vành cao su có buồng chứa khí trong đó. Buồng ấy, người Pháp gọi là CHAMBRE à AIR.

Người Việt hạng có tiền thi nhau mua sắm, và họ đặt chữ để gọi cái ruột xe. Từ SăM phát xuất từ miền Bắc và nó vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, người miền Nam không gọi như vậy, họ nói đơn giản là cái ruột xe, bởi vì bên ngoài, nó có cái vỏ mà người miền Bắc gọi là cái LốP, lốp cũng là từ phiên âm và tách âm từ enveloppe.





3.- Những người sử dụng xe ô-tô đều biết chữ đề.


đề cũng là một từ phiên âm và tách âm từ chữ DéMARRER.

Démarrer phát xuất từ chữ amarre là sợi dây thừng để buộc thuyền vào bờ. Amarrer là buộc vào, démarrer là cởi ra để cho thuyền đi. Từ động từ đó, phát sinh ra nghĩa mở máy cho xe chạy và bộ phận để khởi động gọi là démarreur, chữ này bạn nào có xe cũng biết cả, nó không work thì cái xe bạn kể như đứng yên.

Nói về ngữ nghĩa, Dé thật ra chỉ là một tiếp đầu ngữ gốc La tinh, nó cùng với DES, DIS đều có nghĩa là lấy đi, làm mất đi. Tự bản thân, nó không có nghĩa là làm cho chạy, nhưng nhờ đi với chữ amarre, nó có nghĩa đó. Người Việt cắc cớ, lấy tiếp đầu ngữ và cho nghĩa khác đi. Tuy nhiên, nó chỉ có nghĩa đò trong trường hợp đó, trong trường hợp khác, nó sẽ có nghĩa khác: DéCAPITER: chặt đầu (caput, capitis: cái đầu).

4.- Việc cắt bỏ chữ đã gây nhiều sự khó khăn cho người muốn tìm hiểu, trong chữ này lại còn có sự cắt vần: CA-VE, do chữ CAVALIèRE. ở đây, có một sự cắt vần và nối âm: CA - V + èRE (bỏ đi A và LI) thành ra CAVèRE, đọc là ca-ve. Chữ này rất nhiều người không giải thích được, kể cả những người sinh trước thập niên 50 nhưng sống ở miền Bắc, vì nó xuất hiện trên báo chí ở miền Nam thường hơn. Cũng vậy, chữ SON (cái nồi nhỏ) là do chữ CASSEROLE, khi phiên âm, người ta đã bỏ CAS và ER, còn lại S + OLE



Trong việc phiên âm, người Việt lại còn hay nói trại. Ta gặp trong các từ:

1.- BA Dớ từ chữ BAVURE

2.- BạT từ chữ BâCLE

3.- CùI DìA từ chữ CUILLèRE


5.- LONG đềN từ chữ RONDELLE

6.- MA-Cà-BôNG từ chữ VAGABOND

7.- PHó-MáT từ chữ FROMAGE

8.- PHú DE từ chữ FOURRIèRE

9.- PHú LíT từ chữ POLICE

10.- SU HàO từ chữ CHOU-RAVE

11.- Xà CộT từ chữ SACOCHE

12.- Xà LIM từ chữ CELLULE

Trong chữ 1, VURE mà thành Dớ, trong chữ 3, LLèRE mà thành DìA, trong chữ 7, MAGE mà thành MáT, trong chữ 10, RAVE mà thành HàO, trong chữ 12, LULE mà thành LIM... đã là thấy lạ, nhưng có lẽ lạ nhứt là chữ VAGABOND thành chữ MA-Cà-BôNG, chữ CRESSON thành chữ Xà-LáCH-SON.

Việc nói trại cộng thêm việc cắt bỏ chữ cũng gây nên sự khó khăn trong việc tìm hiểu, điển hình là chữ hủ-lô. Xe hủ-lô ai cũng biết, nhưng đó là do chữ gì thì ít người biết.

Thật ra đó không phải là xe mà chỉ là một bộ phận được gắn vào xe thôi. Nguyên chữ đó là ROULEAU COMPRESSEUR, nghĩa là ống cán ép bằng thép rất nặng nên phải được gắn vào xe có động cơ để dễ di chuyển. Nó chỉ xuất hiện ở Việt nam từ thời Pháp thuộc, thấy lạ, người Việt mới đặt tên để gọi, nhưng người ta không lấy toàn chữ mà chỉ lấy một phần ở đầu, không phiên âm thành ru-lô mà nói trại thành hủ-lô, dùng quen rồi nên không thấy gì lạ chứ sự thực đó là một chữ rất dị kỳ trong tiếng Việt nam.

Trong một trường hợp khác, lúc dịch âm, người Việt dùng ngay chữ Việt: PhấN TIêN để dịch chữ PASTEL, một loại bút màu tương tự như màu sáp. Sự dịch âm như vậy dễ khiến người sử dụng không còn biết đâu là nguồn gốc nữa.

Việc phiên âm trong quá khứ đa phần là việc của cá nhân, vì không có chữ, buộc lòng người ta phải mượn và đặt ra để nói.

Nhìn gần để khảo sát, bạn thấy có nhiều khi người Việt như sính dùng ngoại ngữ trong khi tiếng nước nhà đã có chữ để nói. "Tựa" là một chữ vốn đã có, thoát thai từ chữ "Tự" của Tàu, nhưng người ta vẫn thích nói chữ "Tít", phiên âm từ Titre của Pháp. "Bộ vó" là một chữ có trong tiếng Việt nam, nhưng người ta vẫn thích dùng chữ "Mác", phiên âm từ chữ Marque của Pháp.

Có chữ này nói ra nghe mới buồn cười: Việt nam có chữ "Bố" (Hán Việt), nghĩa là ruồng bắt, nhưng trong từ ngữ bình dân còn có chữ "bố ráp" cũng để chỉ điều đó.





"Ráp" là gì ?


Trong tiếng Việt, ráp có nghĩa là nối lại với nhau, nhưng ở dây không phải là tiếng Việt, đó là phiên âm chữ RAFLE của Pháp, cũng có nghĩa là ruồng bắt (danh từ).

Các bạn trẻ ngày nay không biết vào thời Pháp, những cuộc ruồng bắt kinh khủng như thế nào. Một chiếc xe của Pháp đi qua, một quả lựu đạn ném ra là cả xóm đó bị lùa hết. Pháp sẽ cho lính làm một cuộc RAFLE, vây bắt hết người trong xóm và đem tập trung vào một bãi đất, cho người trùm bao bố có khoét hai lổ nhỏ đi nhận diện. Chỉ cần hắn gật đầu một cái là người đối diện kể như bị lôi ra bắn chết ngay, đó là chưa nói việc nhà cửa trong xóm bị biến thành bình địa do súng lớn của xe tăng, dân chúng đi về, không biết phải ở nơi nào, thật là khổ.

Chữ "bố ráp" có từ thời ấy. Nghe nói Tây đi bố (hay bố ráp) là dân chúng tái mặt, kinh hoàng. Bố ráp là một từ gây hãi hùng cho người Việt thời Pháp thuộc, trong chữ ấy có nửa phần là tiếng Pháp.

Trong chữ "làm le" hay "lấy le" mà bạn vẫn thường nghe hoặc vẫn thường nói, cũng có nửa phần là tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, "le" có nghĩa là lè ra, thè ra, như: le lưỡi. đó là một động từ, còn thấy trong từ "măng le", một giống măng. Thế nhưng trong "làm le" và "lấy le", "le" lại là một danh từ, bắt nguồn từ chữ l'air của Pháp, có nghĩa là không khí (giống tiếng Anh), cũng có nghĩa là dáng vẻ bên ngoài. Làm le tức là làm ra dáng mình ngon lành lắm, lấy le là làm cho có dáng hơn người khác. đó là những expressions bị ảnh hưởng của Pháp, còn tồn tại mãi cho đến ngày nay, nhưng chữ "le" trong lăm le lại là chữ Việt, một từ để láy, không có nghĩa.

Một thành ngữ khác cũng còn được nhiều người nói là "làm reo" (khác với "làm eo" do chữ "yêu" trong tiếng Hán yêu sách).

REO trong tiếng Việt là động từ, có nghĩa là phát ra tiếng lớn, nhưng trong "làm reo", nó lại là danh từ.

Trong tiếng Việt, không có chữ "reo" nào là danh từ cả. Vậy thì ta biết đó là gốc ngoại lai.


Cũng trong mục đích nêu lên để nhận thức, tôi đưa ra chữ LáP quen dùng ở người Việt nam.

Như trên có dẫn, "láp" là từ để dịch chữ l'arbre de transmission, nghĩa là cây truyền động, một bộ phận cơ khí nối ổ máy với trục bánh xe hoặc với chân vịt (hélice) của tàu thủy.

Người Việt hay nói "cây láp", cách nói này là dư chữ, vì láp đã có nghĩa là cây (tree), khi nói "cây láp", vô hình chung ta nói "cây cây", không có nghĩa. Khi nói "cây láp", người nói cho người nghe hiểu ngầm có chữ truyền động ở phía sau, nhưng thực tế ít ai biết phía sau còn có ẩn chữ transmission nghĩa là sự truyền động.

Đơn giản hóa chữ Phiên m

Sự phiên âm còn dẫn đến chỗ dần dần bị người đời đơn giản hóa.

Ví dụ: Bóp-phơi từ chữ Porte-feuille (đồ để đựng giấy tờ, tiền bạc), về sau chỉ còn chữ Bóp, nghĩa là cái ví, chữ Cạc-táp từ chữ Cartable, về sau biến thái thành cặp-táp rồi chỉ còn chữ Cặp, E-ghi từ chữ Aiguille (chữ dùng trong ngành đường sắt), về sau chỉ còn chữ Ghi, ô-ri-gin từ chữ Origine về sau chỉ còn chữ Gin, Lô-can từ chữ Local về sau chỉ còn chữ Lô.

Kể qua một số điều, bạn đọc cũng thấy cái khó của ngôn ngữ, bởi vì quá quen rồi, thường khi chúng ta không thấy.

Để hiểu về tiếng Việt, bạn phải học rất nhiều mới thấu đáo được, 12 năm ở tiểu học và trung học cộng với 7 năm ở đại học vẫn chưa thấm tháp gì, bạn học cả đời cũng chưa hết chữ, tôi nghiên cứu đã hơn 40 năm nay rồi mà vẫn còn nhiều chỗ còn rất mù mờ. ở tha phương này, sách vở không có, tài liệu không có, đành chịu thua !

Biết chữ, xài được chữ và hiểu nghĩa đã là tốt, nếu biết cả gốc gác của nó lại càng tốt hơn. Vì thời gian qua đã lâu rồi, lớp già lần lần chết mất, lớp trẻ không còn hiểu nhiều lịch sử ngày xưa và ngày nay số người biết tiếng Pháp cũng không nhiều, tôi viết bài này cốt là để lớp trẻ có dịp hiểu về từ ngữ gốc Pháp có trong tiếng Việt nam.

Bạn trẻ Việt nam nên nhớ một điều: Việt nam bị ảnh hưởng rất nhiều của người Hán (Trung quốc) và người Pháp. Trong tiếng Việt có hơn 60% là từ gốc Hán, khoảng hơn 400 từ là từ gốc Pháp, do đó, muốn hiểu rành tiếng Việt, bạn phải biết cả tiếng Hán và tiếng Pháp. Muốn hiểu rõ hai thứ tiếng đó, bạn phải tốn ít nhứt 20 năm miệt mài học không ngơi nghỉ, dưới thời gian đó thì hiểu biết khó tận tường.

Thế cho nên đọc một bài viết này vẫn đỡ tốn thì giờ hơn bỏ công ra học, vì có người đã học qua rồi dọn sẵn cho bạn.

Trong một bài viết khác, tôi sẽ trình bày về chữ Việt thoát thai từ chữ Hán để các bạn lãm tường, bởi vì số chữ đó cũng nhiều vô kể và chữ Hán là thứ chữ không dễ học.

Chúc các bạn một mùa xuân thật vui.



Montreal, 18/11/2010

Nguyễn Đức Tuấn

Cựu GS Pháp ngữ và Việt ngữ

(đã đăng trên PSSC Houston, xuân 2011)

* Bản này có sự bổ chính so với bản soạn năm 2010.
Nguồn: http://tunguyenhoc.blogspot.kr/2013/07/chu-viet-goc-phap-con-ton-tai-en-ngay.html

Xem thêm: